Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22 /2025/HSST

Ngày: 24/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Bà Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Cù Ngọc Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Phùng Thị N, sinh năm 1999; HKTT và nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Sành N1 và bà Tẩn Thị M; chồng: La Văn T (đã ly hôn); con: 02 con (lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2019); D chi bản số 781 do Công an huyện C lập ngày 13/11/2024; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2024. Hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phan Hà M1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (có mặt).

Người làm chứng:

  1. Anh Mai Xuân H, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: Khu E, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện tại: Tổ F, phường Q, Tp ., tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Thế Á, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  3. Chị Nguyễn Diệu L, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Số B B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm ổn định cần tiền chi tiêu cá nhân nên Phùng Thị N làm gái bán dâm từ khoảng tháng 9/2024 cho đến nay thông qua việc đăng tải số thuê bao di động 0865631299 của bản thân lên các trang mạng xã hội với mục đích để khách có nhu cầu mua dâm sẽ liên hệ. Khách mua dâm phải trả cho N số tiền 2.000.000 đồng/lượt/2 giờ và phải thanh toán tiền thuê phòng.

Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 05/11/2024, Phùng Thị N nhận được điện thoại của Mai Xuân H (sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: Khu E, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; trú tại: số F, phường Q, Tp ., tỉnh Tuyên Quang); N: “Em đi ăn cùng anh và các em của anh”, Phùng Thị N hiểu ý của H là rủ N đi ăn và để mua dâm N đồng ý. Do trước khi quen biết nhau H đã biết N là gái bán dâm. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Mai Xuân H đón Phùng Thị N và đưa N đi ăn tại quán lẩu cá kèo trên địa bàn huyện C. Tại đây, N và H ăn uống cùng Nguyễn Thế Á (sinh năm 1990; trú tại: thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình). Khi ăn uống Á hỏi N, N nói với Á: “Em có em nào giới thiệu cho anh”, Á nói: “Em không có”, H nói với Á: “Anh biết em làm nghề gì rồi, cứ gợi cho em đây”. N nói vậy, Á đồng ý và vào ứng dụng mạng xã hội Zalo của N sử dụng tài khoản cá nhân để tìm “Kim Heo R” nhắn tin cho Nguyễn Diệu L (sinh năm 1998; trú tại: số B B, phường C, quận H, Tp . Hà Nội): “Có kèo, khách nhiều tiền, đi ăn đi chơi”, L hỏi: “Kèo gì em”, N nói: “Hát hò”, L hỏi: “Khách nào đi”, N nói: “Bây giờ khách đang ngồi ăn đây rồi, tiền không quan trọng, khách giàu”, L hiểu ý là đi bán dâm và hỏi N: “Đã bao giờ về”, N nói: “12h”, L tiếp đó, L hỏi: “Khách của em”, N nói: “Của em”, L nói: “Có phải gái anh không, nhờ khách không ưng thì sao”, N nói: “Không sao, em bao được”, rồi L nói với N: “Cứ báo giá luôn đi” N nói với L: “6 triệu được, Á đồng ý”, N nói vậy L đồng ý. Sau đó, L gửi ảnh cá nhân để cho Á xem mặt trước, Á đồng ý. Tiếp đó, N nói với Á: “Nó đang đi rồi”. Á nói với N: “Cảm ơn em và cho N 2.000.000 đồng” N hiểu số tiền này là Á trả công cho N môi giới cho Á. Khi Nguyễn Diệu L có mặt tại quán ăn nhưng không ăn uống cùng N, H, Á. Sau đó, L, N, H, Á đi vào nhà nghỉ H3 có địa chỉ tại TDP N, thị trấn C, huyện C, Tp . để mua, bán dâm. Tại đây, Phùng Thị N và Mai Xuân H lên phòng 307 còn Nguyễn Diệu L và Nguyễn Thế Á lên phòng 404. H thỏa thuận với N mua bán dâm đến 24h cùng ngày. H sẽ trả cho N 4.000.000 đồng, còn giữa L và Á sau khi mua bán dâm đến 24h cùng ngày L sẽ được hưởng số tiền 7.000.000 đồng. Quá trình các đối tượng đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị lực lượng Công an phát hiện, kiểm tra. Lực lượng Công an đã lập biên bản, thu giữ vật chứng và đưa các đối tượng về trụ sở để điều tra làm rõ nội dung sự việc.

Vật chứng thu giữ:

  • Thu giữ tại phòng 307, nhà nghỉ H3: 01 (một) bao cao su, vỏ màu xanh, nhãn hiệu MINGLIU chưa qua sử dụng.
  • Thu giữ tại phòng 404, nhà nghỉ H3 gồm: 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng, không rõ chất lượng. 01 (một) bao cao su màu trắng nhãn hiệu SATAKU; 01(một) bao cao su màu trắng nhãn hiệu SATAKU chưa qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, số IMEI: 354950993200821 (đã qua sử dụng) bên ngoài là ốp điện thoại màu trắng và số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền Ngân hàng N2 đang lưu hành do Phùng Thị N tự nguyện giao nộp.

Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Phùng Thị N về tội “Môi giới mại dâm quy định tại Khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên toà:

  • Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
  • Người bào chữa cho bị cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đầu thú. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 328; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phùng Thị N từ 03 tháng đến 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì bên trong là bao cao su; Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax; Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của bị cáo; Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của người làm chứng: Xét thấy những này đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Trong quá trình điều tra những người này đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra; lời khai người làm chứng và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 05/11/2024, tại Nhà nghỉ H3 có địa chỉ tại TDP N, thị trấn C, huyện C, Tp ., Phùng Thị N đã trực tiếp bán dâm cho Mai Xuân H và làm trung gian, dụ dỗ, dẫn dắt Nguyễn Diệu L (là bạn của N) bán dâm cho Nguyễn Thế Á (bạn của H) đã thu lợi bất chính số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) thì bị lực lượng Công an huyện C kiểm tra hành chính, phát hiện và đưa các đối tượng về trụ sở Công an để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Phùng Thị N đã tự nguyện giao nộp số tiền 2.000.000 đồng mà N có được từ việc làm môi giới L bán dâm cho Á. Hành vi của Phùng Thị N đã cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại Khoản 1 Điều 328 BLHS.

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Phùng Thị N theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, danh dự, nhân phẩm của con người, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội. Vì vậy cần xử phạt nghiêm minh nhưng cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trước khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đầu thú; bị cáo đang nuôi con nhỏ và thuộc dân tộc thiểu số nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS, do đó có căn cứ áp dụng Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

[2.5] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 02 phong bì bên trong là bao cao su cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax thu của bị cáo, bị cáo dùng để liên lạc hằng ngày nên trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng.
  • Đối với số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của bị cáo là do từ giao dịch bất hợp pháp nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[2.6] Các nội dung khác:

  • Đối với việc Phùng Thị N và Nguyễn Diệu L ngày 05/11/2024 đã thực hiện hành vi bán dâm cho Mai Xuân H và Nguyễn Thế Á mục đích hưởng lợi bất chính đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Ngày 02/01/2025, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC đối với Phùng Thị N và Nguyễn Diệu L; hình thức phạt: tiền; mức phạt: 400.000 đồng mỗi người.
  • Đối với Mai Xuân H, Nguyễn Thế Á: Ngày 05/11/2024, Mai Xuân H, Nguyễn Thế Á đã có hành vi mua dâm đối với Phùng Thị N và Nguyễn Diệu L nhưng H và Á chưa trả tiền cho N, L. Hành vi của Mai Xuân H, Nguyễn Thế Á đều đã phạm vào khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Ngày 02/01/2025, Công an huyện C đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC, 02/QĐ-XPHC đối với Á và H; hình thức phạt: tiền; mức phạt: 1.500.000 đồng.
  • Đối với anh Nguyễn Bá H1 (sinh năm 1984; trú tại thôn T, xã H, huyện C, Tp .; là chủ đăng ký hộ kinh doanh H4): Tại thời điểm các đối tượng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, Cơ quan điều tra nhận thấy anh Nguyễn Bá H1 có dấu hiệu của hành vi: “Thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi xâm hại đến an ninh, trật tự, hành vi vi phạm pháp luật, hành vi trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc tại cơ sở kinh doanh trực tiếp quản lý” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 và hành vi: “Kinh doanh lưu trú, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, cơ sở lưu trú du lịch và các cơ sở chức năng lưu trú không thực hiện thông báo việc lưu trú từ 04 đến 08 người lưu trú” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 12 Điều 9 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021. Cơ quan điều tra đã có Công văn kèm theo các tài liệu có liên quan đối với việc vi phạm của cơ sở hộ kinh doanh Hoàng Long H2 chuyển đến Đội Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Công an huyện C để đề xuất xử lý theo quy định của pháp luật.

[2.7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phùng Thị N phạm tội “Môi giới mại dâm”.
  2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 328; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, phạt: Phùng Thị N 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong có 01 bao cao su vỏ màu xanh, nhãn hiệu MINGLIU chưa qua sử dụng; 01 phong bì bên trong có 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su màu trắng nhãn hiệu SATAKU, 01 bao cao su màu trắng nhãn hiệu SATAKU chưa qua sử dụng.
    • - Trả Phùng Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, số imei: 354950993200821, bên ngoài là ốp điện thoại màu trắng, đã qua sử dụng, không rõ chất lượng.
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000 đồng.

    (Toàn bộ số vật chứng, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2025, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ; Số tiền 2.000.000 đồng hiện đang lưu giữ tại tài khoản số 3949.0.1052753.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ theo ủy nhiệm chi ngày 23/01/2025 tại Kho bạc Nhà nước C).

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Phùng Thị N được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - THAHS;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HSST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về môi giới mại dâm

  • Số bản án: 22/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger