Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH Đ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Đ - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HSST
Ngày: 22 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thúy Thành

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Thu Hà

2. Bà Hoàng Thị Thái

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Quốc T. Không có tên gọi khác.

Sinh ngày: 23/10/1981, tại tỉnh Đ;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đ;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12 phổ thông; Con ông: Hoàng Văn L, con bà: Văn Thị N; Vợ, con: chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/5/2007 bị Tòa án nhân dân thành phố B, xử phạt 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2008. Ngày 23/12/2005 bị Công an phường M, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án, nên đương nhiên được xoá án tích, đã chấp hành xong Quyết định xử phạt hành chính, đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 18/7/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Cà Thị H – sinh ngày: 17/12/1972; Địa chỉ: Bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Đ (Vắng mặt).

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/7/2024, bị cáo Hoàng Quốc T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27H2 – 3151 chở chị Cà Thị H đến đầu bản Xôm, xã Thanh An, huyện Đ thì T bảo H đứng chờ ở đầu bản còn T đi bộ một mình vào trong bản gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết được 02 gói ma tuý, gói thứ nhất có đặc điểm được gói ngoài bằng 01 mảnh nilon màu hồng, bên trong có một cục chất bột màu trắng, gói thứ hai được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu trắng, bên trong có 05 viên nén màu hồng, với giá là 200.000 đồng. Nhận ma tuý người đàn ông đưa cho, T cất giấu trong lòng bàn tay phải của mình. Hồi 21 giờ 55 phút cùng ngày, khi T đang điều khiển xe chở H đi đến khu vực cây xăng thuộc tổ 7, phường Nam Thanh, thành phố B thì bị tổ công tác Công an phường Tân Thanh phối hợp với Công an phường Nam Thanh làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo khai các gói bị thu giữ là ma túy, loại Methamphetamine và Heroine, bị cáo mua với mục đích để bản thân sử dụng.

Tại biên bản làm việc về nội dung mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma tuý và niêm phong lại đồ vật hồi 02 giờ 15 phút, ngày 18/7/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B và kết luận giám định số 1247KL-KTHS ngày 23/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đ kết luận: Các viên nén màu hồng gửi giám định thu giữ của bị cáo Hoàng Quốc T là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,49 gam. Cục chất bột màu trắng đục gửi giám định thu giữ của bị cáo Hoàng Quốc T là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,17 gam.

Tại bản cáo trạng số: 188/CT-VKS-TPĐBP ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Hoàng Quốc T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Quốc T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/BLHS, xử phạt bị cáo từ 19 tháng đến 22 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine và 0,39 gam Methamphetamine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu trăng, 01 mảnh nilon màu hồng; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Hoàng Quốc T không có lời bào chữa nào, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 21 giờ 55 phút ngày 17/7/2024, tại khu vực tổ 7, phường Nam Thanh, thành phố B, tỉnh Đ, Hoàng Quốc T có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,49 gam Methamphetamine và 0,17 gam Heorine, mục đích để bản thân sử dụng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 55 phút ngày 17/7/2024, biên bản làm việc về nội dung mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma tuý và niêm phong lại đồ vật hồi 02 giờ 15 phút, ngày 18/7/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B và kết luận giám định số 1247KL-KTHS ngày 23/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đ.

Do đó có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi tàng trữ trái phép hai chất ma túy, với mục đích để sử dụng của bị cáo Hoàng Quốc T là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249/BLHS.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52/BLHS. Bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 29/5/2007 bị Tòa án nhân dân thành phố B, xử phạt 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 23/12/2005 bị Công an phường M, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án, nên đương nhiên được xoá án tích, đã chấp hành xong Quyết định xử phạt hành chính, đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức rõ hành vi cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, với khối lượng ma túy mà bị cáo đã tàng trữ, căn cứ vào nhân thân của bị cáo, thì mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, kiểm sát viên trong quá trình

3

điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4]. Đối với người đàn ông không quen biết đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ của người này, cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị H là người đi cùng bị cáo T xuống bản Xôm, nhưng khi T vào mua ma tuý, chị H không biết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27H2 – 3151, trong quá trình điều tra và tại phiên toà có đủ căn cứ xác định thuộc quyền sở hữu của chị Cà Thị H, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H, nhận lại xe, chị H không có khiếu nại gì, xét việc trao trả tài sản này là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Vật chứng: Đối với 0,11 gam Heroine và 0,39 gam Methamphetamine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), là vật nhà nước cấm tàng trữ, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng, là vật không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.

[6]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/BLHS.
    • - Tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
    • - Xử phạt bị cáo Hoàng Quốc T 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (17/7/2024).
  2. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine và 0,39 gam Methamphetamine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu trăng,

4

01 mảnh nilon màu hồng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2024 giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đ).

  1. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333/BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 22/11/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Toà án niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người CQLNVLQ;
  • - VKSNDTPĐBP;
  • - VKSND tỉnh ĐB;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TPĐBP;
  • - Đội HSNV Công an TPĐBP;
  • - Cơ quan THAHS TP ĐBP;
  • - Nhà tạm giữ CA TPĐBP;
  • - Trại tạm giam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đ;
  • - Chi cục THA Dân sự;
  • - TAND tỉnh Đ;
  • - HS THA Hình sự;
  • - Lưu HS vụ án;
  • - Lưu VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Thúy Thành

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HSST ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH Đ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 21/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH Đ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger