|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 22/2024/HSST Ngày 16 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Kim Liên
Thẩm phán: Bà Tòng Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Nga, bà Bùi Thị Đào, bà Đinh Thị Kim Dung.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Cương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Mùa Thị P, tên gọi khác: không, sinh ngày 28/7/1990 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản A, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi ở hiện tại: Bản K, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Mùa A C và bà: Và Thị X; có chồng là Tráng Láo K (đã ly hôn) và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2018); Tiền án, Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Mùa Thị P: Ông Đàm Mạnh H - Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh S. Có mặt.
* Người phiên dịch: Anh Lý A K1. Địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 24/7/2024, tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh S phối hợp các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại khu vực bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, phát hiện bắt quả tang Mùa Thị P, sinh năm 1990, (trú tại bản A, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La) đang có biểu hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 50 cục chất dẻo màu nâu đen (nghi là thuốc phiện); 01 điện thoại đi động nhãn hiệu OPPO; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel; 01 xe máy nhãn hiệu HONDA loại AIRBLADE, BKS 26C1-202.92. Ngoài ra còn tạm giữ của Mùa Thị P 01 ví giả da màu nâu; 2.600.000 đồng tiền mặt.
Hồi 20 giờ 50 phút ngày 24/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh S đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định: 50 cục chất dẻo màu nâu đen có tổng khối lượng 6.611,3 gam, trích 325,22 gam làm mẫu trưng cầu giám định, ký hiệu từ M1 đến M50.
Kết luận giám định số 1511/KL-KTHS ngày 26/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu ký hiệu từ M1 đến M50 gửi giám định đều là ma túy; loại Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện); tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 325,22 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 6.611,3 gam; loại Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện).
Quá trình điều tra, Mùa Thị P khai nhận :
Khoảng 19 giờ ngày 23/7/2024, Mùa Thị P đang làm thuê ở trang trại bò sữa thuộc thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La thì có Vàng Thị L (cô họ của P, trú tại: Bản P, Cụm H, huyện S, tỉnh Hủa Phăn, Lào) gọi điện cho P qua ứng dụng Messenger. L đặt vấn đề thuê Phùa vận chuyển thuốc phiện từ Ngã ba T, xã C, huyện M sang huyện P, tỉnh Sơn La cho bạn của L (trú tại: thị xã S, tỉnh Lào Cai) và hứa trả công 5.000.000 đồng, P đồng ý. Qua trao đổi, L nói sẽ cho con trai là Mùa A V và con dâu Giàng Thị L1 gửi xe máy có cất giấu sẵn ma túy lên khu vực Ngã ba T, xã C, huyện M cho P.
Đến 06 giờ ngày 24/7/2024, P đi xe khách từ huyện M đến Ngã ba T, xã C, huyện M để đợi nhận xe có chứa ma túy. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Mùa A V gọi điện thông báo cho P chiếc xe máy HONDA AIRBLADE màu xanh có chứa ma túy đang dựng ở đường rẽ đi huyện B, tỉnh Sơn La. Phùa đi bộ theo chỉ dẫn của V và thấy 01 xe máy dựng ở phía bên trái đường. Phùa điều khiển xe máy đi theo hướng Sơn La - P. Khi đi đến khu vực bản T, xã C, huyện M thì bị tổ Công tác Công an tỉnh S kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng như đã nêu trên.
Về nguồn gốc 6.611,3 gam nhựa thuốc phiện thu giữ trong vụ án, Mùa Thị P khai nhận của Vàng Thị L (là cô họ của P) nhà ở bản P, cụm Pa Háng H, huyện S, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào, cùng con trai Mùa A V và con dâu Giàng Thị L1 thuê Phùa vận chuyển từ huyện M sang huyện P, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh S đã có Công văn gửi Công an tỉnh H, nước CHDCND Lào đề nghị xác minh, điều tra khi có căn cứ thì xử lý theo quy định pháp luật Lào.
Đối với người nhận ma túy của P tại huyện P, tỉnh Sơn La, quá trình điều tra, Mùa Thị P khai nhận trú tại thị xã S, tinh Lào Cai, P không biết họ tên địa chỉ, số điện thoại cụ thể. Ngoài lời khai của P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA loại AIRBLADE, BKS 26C1-202.92 quá trình điều tra, Mùa Thị P khai nhận của Vàng Thị L cất giữ ma túy giao cho P. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, điều tra xác định người đăng ký mang tên Lò Văn T, trú tại: bản Mường Cang, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. T khai mua xe từ năm 2019, tuy nhiên sau đó đã bán lại chiếc xe máy cho người đàn ông không quen biết. Thoát không quen, biết Mùa Thị P.
Tại cáo trạng số 175/CTr-VKS-P1 ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Mùa Thị P về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Mùa Thị P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 250, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mùa Thị P: 20 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA loại AIRBLADE, BKS 26C1-202.92 và đăng ký xe; tịch thu tiêu hủy ma túy thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định, 01 ví giả da; trả lại cho bị cáo Mùa Thị P 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel và số tiền 2.600.000 đồng.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Mùa Thị P: Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội, đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo không biết chữ, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt. Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo Mùa Thị P nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận bổ sung và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
-
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh S trong quá trình điều tra; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La trong quá trình truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2] Về hành vi phạm tội:
Ngày 24/7/2024, tại bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, Mùa Thị P khi đang có hành vi vận chuyển trái phép 6.611,3 gam Nhựa thuốc phiện với mục đích nhận 5.000.000đ tiền công thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
-
Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mùa Thị P lập hồi 12 giờ 45 phút ngày 24/7/2024 tại Đội CSGT đường bộ số B – C, M, Sơn La, thể hiện: Hồi 12h15 phút ngày 24/7/2024, Tổ công tác phòng trinh sát điều tra Công an tỉnh S làm nhiệm vụ tại bản Tân Thảo, C, M, Sơn La, phát hiện người phụ nữ (Mùa Thị P) có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Vật chứng thu giữ: 50 cục chất dẻo màu nâu đựng trong cốp, mặt nạ xe máy do P điều khiển (P khai là ma tuý Phùa vận chuyển thuê cho Vàng Thị L, Mùa A V, Giàng Thị L1 để nhận 5.000.000đ tiền công) cùng một số đồ vật khác có liên quan.
-
Kết luận giám định số 1511/KL-KTHS ngày 26/7/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu từ M1 đến M50 gửi giám định đều là ma túy; loại Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện); Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định 325,22gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 6.611,3 gam; loại Thuốc phiện.
-
Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Với các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Mùa Thị P đã phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự.
-
-
[3] Về khung hình phạt áp dụng:
Bị cáo Mùa Thị P thực hiện hành vi Vận chuyển trái phép 6.611,3 gam (6,6113 kilôgam) Nhựa thuốc phiện, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự; Khung hình phạt có mức hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.
-
[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung, vì vậy cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân:
Bị cáo Mùa Thị P chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
-
[6] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mang tính nguy hiểm cao, gây nguy hại lớn cho xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác nhưng chỉ vì hám lợi trước mắt mà thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung. Đề nghị của Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ.
-
[7] Đối với các đối tượng khác trong vụ án:
Đối với Vàng Thị L, Mùa A V, Giàng Thị L1 là người thuê P vận chuyển ma túy, P khai nhận các đối tượng trên sống ở bản P, cụm P, huyện S, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh S đã có Công văn gửi Công an tỉnh H, nước CHDCND Lào đề nghị xác minh, điều tra khi có căn cứ thì xử lý theo quy định pháp luật Lào.
Đối với người nhận ma túy của P tại huyện P, tỉnh Sơn La, Mùa Thị P không biết họ tên địa chỉ, số điện thoại cụ thể. Do đó không có căn cứ để điều tra, mở rộng vụ án.
-
[8] Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 6286,08 gam nhựa thuốc phiện còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định là vật nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy cùng với các mảnh nilon, giấy bạc và băng dính màu đen để gói vật chứng ban đầu.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA loại AIRBLADE, BKS 26C1-202.92 và đăng ký xe thu giữ của Mùa Thị P là phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, 01 chiếc ví giả da màu nâu, 2.600.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo Mùa Thị P.
-
[9] Về án phí: Bị cáo Mùa Thị P là người dân tộc thiểu số sống ở xã, bản đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Mùa Thị P phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Mùa Thị P 20 (Hai mươi) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 24/7/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 6.286,08 gam Nhựa thuốc phiện còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định + các mảnh nilon, giấy bạc và băng dính màu đen để gói vật chứng ban đầu được đựng trong 01 (một) hộp vật chứng còn nguyên niêm phong của Công an tỉnh S.
- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:
-
+ 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu AIR BLADE, màu sơn: xanh đen, biển kiểm soát 26C1-202.92, số máy JF63E2375176, không kiểm tra được số khung, xe không có chìa khóa, đã qua sử dụng cũ, xe được niêm phong một số vị trí (phần đầu xe, thân xe, máy móc); 01 (một) đăng ký xe máy số 013779 mang tên Lò Văn T.
-
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh dương, loại màn hình cảm ứng, bên trong có gắn 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng, điện thoại đã hết pin, không bật được nguồn (thu giữ của Mùa Thị P), được niêm phong trong một chiếc phong bì.
- Trả lại cho bị cáo Mùa Thị P:
-
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu xanh, loại bàn phím, bên trong có gắn 02 sim điện thoại, đã qua sử dụng, điện thoại đã hết pin, không bật được nguồn (thu giữ của Mùa Thị P), được niêm phong trong một chiếc phong bì.
-
+ 01 (một) chiếc ví giả da màu nâu không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.
-
+ 2.600.000VNĐ (Hai triệu sáu trăm nghìn Việt Nam đồng) được đựng trong 01 (một) chiếc phong bì của Phòng PC09 Công an tỉnh S còn nguyên niêm phong.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La)
-
-
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Mùa Thị P.
-
Quyền kháng cáo: Bị cáo Mùa Thị P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/12/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Kim Liên |
Bản án số 22/2024/HSST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 22/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 20 năm
