Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày 03 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Thanh Liêm

Ông Tòng Văn Loan

Thư ký phiên toà: Ông Cầm Việt Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà:

Bà Vũ Thị Tố Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 23 tháng 11 năm 1991 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản L, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Trần Đại N (sinh năm 1968) và con bà Tòng Thị X (sinh năm 1970); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/9/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Cà Văn T1, sinh năm 1981. Trú tại: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Thanh T2, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Tổ I, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Anh Tòng Văn N1, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 08/7/2019, anh Tòng Văn N1, sinh năm 1989, trú tại: Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La đến nhà anh họ là Cà Văn T1, sinh năm 1981, trú tại: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La để nhờ anh T1 đưa đến gặp Trần Văn T, sinh năm 1991, trú tại: Bản L, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La (là bạn học cùng Trung học phổ thông của N1) thì anh T1 đồng ý. Sau đó, anh N1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 26B1-815.82 của anh T1 chở anh T1 ngồi sau đến gặp T. Khi đến gặp T, T rủ anh N1 và anh T1 đi uống bia ở chợ T3 thành phố S rồi T ngồi lên điều khiển xe mô tô của T1 chở anh N1 và anh T1 ngồi sau, khi đi đến khu vực Bệnh viện P tỉnh Sơn La, do sợ bị Cảnh sát giao thông dừng xe kiểm tra vì chở 03 người nên T bảo anh T1 xuống xe đợi, T chở anh N1 đến quán bia rồi sẽ quay lại đón anh T1 thì anh T1 đồng ý xuống xe để cho T điều khiển xe chở anh N1 đi. Sau đó, T điều khiển xe chở anh N1 đến khu vực chợ T4 thành phố S, T bảo anh N1 đợi ở quán bia để T quay lại đón T1. Trên đường về đón anh T1, T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô trên của T1 để bán lấy tiền tiêu xài, nên T điều khiển xe mô tô của anh T1 đến cửa hàng kinh doanh dịch vụ cầm đồ tại: Tổ D, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La của anh Trương Thanh T2, sinh năm 1990, trú tại: Tổ I, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La và bán chiếc xe mô tô của anh T1 với giá 14.000.000đ và dùng để tiêu sài cá nhân hết.

Đến ngày 11/7/2019, anh T1 và anh N1 tìm thấy T ở khu vực phường C, thành phố S và yêu cầu T đưa đến cửa hàng của anh T2 để tìm xe. Khi đến cửa hàng, anh T1 nhận ra xe của mình và được anh T2 thông tin rằng chiếc xe trên do một người tên là Lê Thành L bán với giá 14.000.000đ. Cùng lúc đó, T đang đứng ở ngoài cửa hàng xe và bỏ chạy, anh T1 và anh N1 đã đuổi theo nhưng không kịp. Sáng ngày 12/7/2019, T đã đón xe khách đi thành phố Hà Nội. Đến ngày 17/7/2019, không thấy T trả lại xe nên anh T1 đã làm đơn trình báo Cơ quan Công an để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/7/2019, anh T2 đã bán chiếc xe mô tô trên cho một người nam giới (không rõ thân nhân) với giá 16.000.000đ.

Ngày 24/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã phát hiện, tạm giữ chiếc xe mô tô Honda Dream, BKS 26B1-815.82 của anh Cà Văn T1 tại bãi trông giữ xe của Bệnh viện Q (không xác định được người gửi xe). Ngày 25/12/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra quyết định số 147/QĐ-ĐTTH về việc xử lý đồ vật, tài liệu, trả lại cho Cà Văn T1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 26B1-815.82, màu nâu đã qua sử dụng và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 083248, mang tên Cà Văn T1.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 37/KL-HĐĐGTS ngày 20/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S kết luận: “01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, BKS: 26B1-815.82, mua và sử dụng từ năm 2013. Giá trị còn lại là: 15.000.000 đồng”.

Tại Kết luận giám định số 1426/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Chữ viết các mục “Tên chủ xe”, “nơi thường trú ”, “ĐT số”, “Có chiếc xe” và dưới mục “NGƯỜI BÁN XE (Ký, ghi rõ họ tên) trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ viết của Trần Văn T trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 là do cùng một người viết ra.

Tại bản cáo trạng số: 517/CT-VKS ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Văn T từ 10 (mười) đến 14 (mười bốn) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến gì đối đáp với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về các Quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; nhất trí với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát; nhất trí với bản luận tội cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phần tranh luận; bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nhưng đề nghị Hội đồng xét xử, xử bị cáo với mức án cao nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Đối với bị hại anh Cà Văn T1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trương Thanh T2 và người làm chứng anh Tòng Văn N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ, trong đơn xin xét xử vắng mặt, họ khẳng định không thay đổi lời khai so với lời khai tại cơ quan điều tra và không có yêu cầu bồi thường gì thêm đối với bị cáo. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.

[3] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 08/7/2019, Trần Văn T đã lợi dụng sự tin tưởng của anh Cà Văn T1, T mượn 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 26B1-815.82 của anh Cà Văn T1, mục đích là để đưa Cà Văn T1 và Tòng Văn N1 ra quán bia tại Chợ T3 thành phố S. Sau khi đưa Tòng Văn N1 ra quán bia trước, T quay lại để đón T1 ra quán bia thì nảy sinh ý định bán chiếc xe máy của anh T1 cho anh Trương Thanh T2 để lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất mức độ của hành vi: Trần Văn T có hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 26B1-815.82 của anh Cà Văn T1, giá trị chiếc xe tại thời điểm Trần Văn T chiếm đoạt là 15.000.000đ, theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 37/KL-HĐĐGTS ngày 20/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, với động cơ, mục đích là nhằm chiếm đoạt tài sản, không những trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Văn T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tội phạm và hình phạt được quy định điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử bị cáo về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 03 năm và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 09/9/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã được xóa án tích). Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra. Do đó, Đại diện Viện kiểm sát quy kết bị cáo phạm tội và đề nghị xử phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó, xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự, bị cáo thể bị áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền), tuy nhiên, tại biên bản xác minh cho thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung là không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Cà Văn T1 đã nhận được tài sản, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trương Thanh T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

[9] Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2024 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[10] Đối với anh Trương Thanh T2, quá trình điều tra xác định: Anh Trương Thanh T2 có đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ, khi nhận mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream KS 26B1-815.82, anh T2 không biết việc Trần Văn T giả mạo tên Lê Thành L để bán xe, không biết nguồn gốc chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream KS 26B1-815.82 do Trần Văn T phạm tội mà có nên việc mua bán xe không cấu thành tội phạm.

[11] Vật chứng của vụ án: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 26B1-815.82, màu nâu đã qua sử dụng và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 083248, mang tên Cà Văn T1, được xác định là tài sản cá nhân của a Cà Văn T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trả lại cho anh Cà Văn T1, bị hại không có ý kiến gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận trong bản án.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

    Xử phạt bị cáo Trần Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 12/9/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng: Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trả lại cho anh Cà Văn T1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 26B1-815.82, màu nâu đã qua sử dụng và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 083248, mang tên Cà Văn T1.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Trần Văn T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 03/12/2024), bị hại anh Cà Văn T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trương Thanh T2 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La;
  • - Công an thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - THAHS;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Thị Mai Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger