|
TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày 29-11-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Đình Cường.
- Ông Nguyễn Hữu Thức.
- Thư ký phiên tòa: Ông Giang Tiến Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST - HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tạ Xuân D, sinh ngày 07/7/1985 tại huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi thường trú: Thôn Đ, xã N, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi tạm trú: Bản P, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Kỹ sư xây dựng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tạ Văn T, sinh năm 1961 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1964; Vợ: Hoàng Thị Bạch T2, sinh năm 1985; con: Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị khởi tố, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/7/2024 tại xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu đến nay, bị cáo có mặt.
- Bị hại: Anh Lò Văn P - sinh năm 1985 (đã chết).
- Đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Lò Thị H - sinh năm 1988 (vợ của bị hại). Trú tại: Đ, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần Đ. Trụ sở tại Số B, N, tổ B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu. Người đại diện theo pháp
1
luật của công ty là ông Trần Trọng T3 - sinh năm 1994. Chức vụ: Tổng giám đốc. Nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã N, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi đăng ký tạm trú: Bản P, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/3/2023, Công ty cổ phần Đ do ông Trần Trọng T3 là giám đốc công ty đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn số 0056/LM-HĐKXĐTH-AP/2023 với anh Lò Văn P, theo hợp đồng công việc của anh P là bảo vệ, bơm nước và theo sự điều động của người quản lý tại công trình thủy điện N thuộc bản P, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu.
Tại quyết định số 11/QĐ-AP ngày 12/6/2021 của tổng giám đốc công ty cổ phần Đ đã bổ nhiệm Tạ Xuân D là chỉ huy trưởng công trình thủy điện N. Tạ Xuân D có nhiệm vụ quản lý điều hành mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh tại công trường theo đúng điều lệ, quy chế, quy định, quy trình của công ty và các quy định của nhà nước, đảm bảo vệ sinh an toàn lao động. Tạ Xuân D có trách nhiệm tìm hiểu đặc tính, cách vận hành của các loại máy móc trên công trường để bố trí máy móc và người sử dụng đúng chức năng, nhiệm vụ, vận hành hiệu quả, đảm bảo các quy định về vệ sinh an toàn lao động cho từng thiết bị theo đúng quy định pháp luật.
Vào đầu tháng 02/2024, Công ty cổ phần Đ mua của Công ty cổ phần Đ 01 thiết bị nâng là P1 cáp điện có tải trọng nâng 10 tấn, nhãn hiệu Kento, thiết bị Palang cáp điện được lắp đặt từ cuối tháng 02/2024, thiết bị có tem kiểm định và khi lắp đặt vận hành thử thì hoạt động bình thường. Công ty giao cho Tạ Xuân D quản lý Palang cáp điện nêu trên nhưng chưa giao cho D đưa vào sử dụng.
Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 08/3/2024, Tạ Xuân D dù biết Lò Văn P không có chứng chỉ hàn điện, chưa được huấn luyện, cấp thẻ an toàn theo quy định, tuy nhiên do biết P có kinh nghiệm hàn điện từ trước nên D đã giao cho Lò Văn P một mình đi hàn bổ sung các thanh sắt vào tấm chắn rác đặt ở cửa dẫn nước vào thủy điện, P đồng ý. Sau đó P chuẩn bị quần áo bảo hộ cùng mũ, găng tay, máy hàn điện của công trình rồi cùng D đi ra vị trí cửa dẫn nước để thực hiện công việc. Lúc này tại cửa dẫn nước của thủy điện đã có lắp đặt sẵn Palang cáp điện nêu trên. Để hàn được tấm chắn rác cần phải sử dụng thiết bị nâng Palang cáp điện để kéo tấm chắn rác ở dưới khe cửa dẫn nước lên trên bề mặt cửa dẫn nước của thủy điện. Lúc này ở dưới khe cửa dẫn nước có 01 tấm chắn rác làm bằng kim loại, có khối lượng khoảng 04 tấn, rộng 2,9 mét, dài 3,6 mét, dày 0,5 mét. Mặc dù D biết P chưa được đào tạo về chuyên môn, chưa được
2
huấn luyện, cấp thẻ an toàn để sử dụng Palang cáp điện nhưng D vẫn phân công P xuống phía dưới cửa dẫn nước để móc cẩu còn D ở phía trên cửa dẫn nước điều khiển Palang cáp điện. Khi P xuống đến vị trí tấm chắn rác thì D ở phía trên thả móc cẩu cùng một đoạn dây cáp bằng thép xuống gần vị trí đặt tấm chắn rác, tại 2 tai của tấm chắn rác đã có sẵn 2 chốt. Sau đó P ở phía dưới luồn 2 đầu của dây cáp qua 2 tai có sẵn của tấm chắn rác rồi dùng 2 chốt để kết nối giữa hai đầu dây cáp với 2 tai của tấm chắn rác. Sau đó P móc dây cáp vào đầu móc cẩu của P1 cáp điện rồi thông báo cho D biết để bấm nút điều khiển Palang cáp điện để bắt đầu kéo tấm chắn rác lên.
Sau khi kéo được tấm chắn rác lên trên bề mặt cửa dẫn nước, D điều khiển P1 cáp điện để tấm chắn rác nằm trên bề mặt cửa dẫn nước theo phương thẳng đứng, móc cẩu của P1 cáp điện vẫn móc vào tấm chắn rác để giữ cố định. Hướng dẫn P xong, D đi về thực hiện nhiệm vụ khác rồi để P một mình tự điều khiển Palang cáp điện để điều chỉnh độ cao, thấp của tấm chắn rác để hàn bổ sung các thanh sắt vào tấm chắn rác. Từ ngày 08/3/2024 tấm chắn rác liên tục được treo trên móc cẩu của P1 cáp điện còn P một mình đứng bên cạnh tự dùng máy hàn để hàn thêm các thanh sắt vào. Bản thân D hàng ngày vẫn đến vị trí P thực hiện nhiệm vụ để kiểm tra, giám sát kết quả và tiến độ. Mọi hoạt động hàn tấm chắn rác của P bắt đầu từ sáng ngày 08/3/2024 đến hết sáng ngày 12/3/2024 vẫn diễn ra bình thường.
Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/3/2024 P một mình đến cửa dẫn nước để tiếp tục hàn tấm chắn rác. Lúc này do tấm chắn rác bị treo lâu ngày trên móc cẩu của P1 cáp điện thông qua chốt và dây cáp làm cho thanh chốt bị tuột ra khỏi 2 tai của tấm chắn rác, dây cáp cũng bị tuột dẫn đến tấm chắn rác bị rơi đè lên người Lò Văn P. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày D đến vị trí P hàn thì thấy tấm chắn rác bị rơi, đang đè lên người P nên D dùng Palang điện móc nâng tấm chắn rác lên rồi đưa P đi cấp cứu nhưng do bị thương quá nặng nên P đã tử vong trước khi đến trung tâm y tế huyện T.
Ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn lao động, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi Lò Văn P. Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 máy hàn điện nhãn hiệu INVERTER Tiến Đạt có dòng hàn 2000A-EU đã qua sử dụng; 02 chốt sắt (ắc) phi 80, dài 30 cm, đường kính nơi rộng nhất 11 cm, nơi hẹp nhất 8 cm, đã qua sử dụng; 01 mo hàn điện, đã qua sử dụng; 01 mũ cứng màu xanh, đã qua sử dụng; 01 găng tay hàn điện, đã qua sử dụng; 01 đoạn dây cáp bằng thép, màu đen, dài 3,25 mét, rộng 2 cm; 01 Palang cáp điện loại 10 tấn, 30m có Model: CD1, công suất 13Kw/380v, trọng tải nâng: 10 tấn, chiều cao nâng hạ 30m, tốc độ nâng hạ: 7m/p, tốc độ di chuyển ngang: 20m/p, đã qua sử dụng để phục vụ điều tra.
3
Tại bản kết luận số 15/KLGĐTT-TTPYLC ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: Nguyên nhân chết của anh Lò Văn P là: Chấn thương ngực kín; Dập vỡ tim, phổi/ Sốc đa chấn thương không hồi phục. Cơ chế chết của Lò Văn P: Chấn thương ngực kín -> Dập vỡ tim, phổi -> Sốc mất máu cấp không hồi phục ->Tử vong. Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tầy tác động trực tiếp gây nên.
Tại công văn số 15/ĐTTNLĐ ngày 13/6/2024 của Đoàn điều tra tai nạn Lao động tỉnh L kết luận như sau:
“1. Vụ tai nạn trong quá trình lao động xảy ra khoảng 13 giờ 45 phút ngày 12/3/2024 tại hạng mục cửa hầm dẫn nước vào Tuabin khu vực đập thuộc công trình thủy điện N dẫn đến cái chết của ông Lò Văn P là vụ tai nạn lao động.
2. Lỗi của cá nhân, tổ chức liên quan:
- Ban điều hành công trình thủy điện Nậm Mít L và Công ty cổ phần Đ không tổ chức nhận diện, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc. Quy định tại điểm b, khoản 5, Điều 22 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ.
- Công ty cổ phần Đ: Sử dụng lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với nghề, công việc phải sử dụng lao động đã được đào tạo hoặc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 8, Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ. Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động không đúng lý do, thời hạn hoặc không có văn bản đồng ý của người lao động theo quy định của pháp luật. Quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 11 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ.
- Đối với cá nhân: Ông Lò Văn P được giao nhiệm vụ nhưng chưa tuân thủ biện pháp an toàn lao động (quy định tại Thông tư số 06/2020/TT-BLĐTBXH ngày 20/8/2020 của Bộ L1-TBXH ban hành Danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động), chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với nghề, công việc phải sử dụng lao động đã được đào tạo hoặc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, chưa được huấn luyện an toàn lao động (quy định tại Mục 4.1 Thông tư số 41/2013/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2013 của Bộ L1-TBXH ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với công việc hàn hơi).”
Tại công văn số 36/ĐTTNLĐ ngày 26/9/2024 của Đoàn điều tra tai nạn Lao động tỉnh L về việc trả lời bổ sung kết quả điều tra vụ tai nạn lao động tại Công trình Thủy điện Nậm Mít Luông kết luận như sau:
4
- “Trách nhiệm chính của vụ tai nạn lao động thuộc về ông Tạ Xuân D (sinh ngày 07/7/1985) có hộ khẩu thường trú tại Thôn Đ, xã N, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc là chỉ huy trưởng của nhà thầu Công ty cổ phần Đ thi công công trình thủy điện N. Tại thời điểm xảy ra tai nạn ông D không thực hiện đầy đủ quy định tại Khoản 6 Điều 12 Luật An toàn Vệ sinh lao động năm 2015 và Q về an toàn lao động đối với thiết bị nâng (QCVN 7: 2012/BLĐTBXH) do Cục A, Bộ L1 ban hành theo Thông tư số 05/2012/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 3 năm 2012 là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn chết người đối với ông Lò Văn P.
- Về trách nhiệm tổ chức, tập thể: Nội dung này Đoàn Điều tra đã nêu rõ tại văn bản số 15/ĐTTNLĐ ngày 13/6/2024 và Đoàn Điều tra TNLĐ đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/ĐTTNLĐ ngày 16/7/2024, với tổng số tiền xử phạt là 36.000.000 đồng.”
Bản Cáo trạng số 94/CT-VKS-TU, ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Tạ Xuân D về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Tạ Xuân D số tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01(một) mũ cứng màu xanh; 01 (một) găng tay hàn điện. Trả lại cho Công ty cổ phần Đ: 01 (một) máy hàn điện nhãn hiệu INVERTER Tiến Đạt có dòng hàn 2000A-EU; 02 (hai) chốt sắt (ắc) phi 80, dài 30 cm, đường kính nơi rộng nhất 11 cm, nơi hẹp nhất 8 cm, đã qua sử dụng; 01(một) mo hàn điện; 01 (một) đoạn dây cáp bằng thép, màu đen, phi 16, dài 3,25 mét, rộng 2cm, hai đầu của dây cáp được cuộn thành vòng tròn; 01 palang cáp điện.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Lò Thị H trình bày sau khi xảy ra vụ tai nạn thì Tạ Xuân D cùng đại diện Công ty cổ phần Đ đã tự nguyện hỗ trợ, bồi thường thiệt hại cho gia đình chị số tiền 200.000.000 đồng. Ngoài
5
mức hỗ trợ trên hàng tháng Công ty cổ phần Đ hỗ trợ gia đình chị H số tiền là 4.000.000 đồng trong thời gian 07 năm (tính từ tháng 3/2024 đến tháng 3/2031). Chị H đồng ý với mức bồi thường trên và không đề nghị bồi thường gì thêm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần Đ nhất trí với ý kiến của chị Lò Thị H và không có ý kiến gì thêm.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Tạ Xuân D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Tạ Xuân D là chỉ huy trưởng công trình thủy điện N tại bản Pắc Ta, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu. Mặc dù biết anh Lò Văn P chưa được đào tạo về chuyên môn và chưa được huấn luyện, cấp thẻ an toàn lao động theo đúng quy định. Tuy nhiên, từ ngày 08/3/2024, Tạ Xuân D đã tự ý giao cho anh P một mình sử dụng Palang cáp điện là thiết bị nâng có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động để nâng tấm chắn rác lên và hàn các thanh sắt vào tấm chắn rác là vi phạm khoản 6 Điều 12 Luật an toàn vệ sinh lao động và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với thiết bị nâng (QCVN 7: 2012/BLĐTBXH) do Cục A, Bộ L1 ban hành theo Thông tư số 05/2012/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 3 năm 2012. Hậu quả trong quá trình một mình anh Lò Văn P sử dụng Palang cáp điện thì vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/3/2024, móc cẩu của P1 cáp điện bị tuột chốt làm cho tấm chắn rác bị rơi đè lên người anh P làm anh P bị thương nặng dẫn đến tử vong.
Bị cáo là người đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo là chỉ huy trưởng công trình, là người chịu trách nhiệm quản lý, trực tiếp phân công
6
công việc, chịu trách nhiệm về phổ biến, hướng dẫn quy trình, nội quy quy định về an toàn lao động tại công trường. Tuy nhiên trong quá trình lao động, sản xuất, do chủ quan, không nghiên cứu kỹ các quy định về an toàn lao động nên bị cáo đã giao cho anh P sử dụng thiết bị Palang cáp điện là thiết bị nâng có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động, hậu quả đã gây ra tai nạn lao động làm cho anh Lò Văn P tử vong. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến sự an toàn trong lao động mà còn xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác. Cáo trạng tuy tố bị cáo Tạ Xuân D về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tạ Xuân D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quá trình điều tra bị cáo đã cùng Công ty cổ phần Đ tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại và được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ đảm bảo cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và công tác giáo dục phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng hình phạt tiền.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong, đại diện gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án.
[5] Về xử lý vật chứng:
7
- 01 mũ cứng màu xanh, 01 găng tay hàn điện đều đã qua sử dụng, quá trình giải quyết vụ án đại diện hợp pháp của anh Lò Văn P không có nguyện vọng xin lại, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 máy hàn điện nhãn hiệu INVERTER Tiến Đạt có dòng hàn 2000A-EU đã qua sử dụng; 02 chốt sắt (ắc) phi 80, dài 30 cm, đường kính nơi rộng nhất 11 cm, nơi hẹp nhất 8 cm, đã qua sử dụng; 01 mo hàn điện, đã qua sử dụng; 01 đoạn dây cáp bằng thép, màu đen, phi 16, dài 3,25 mét, rộng 2 cm, hai đầu của dây cáp được cuộn thành vòng tròn, đã qua sử dụng và 01 Palang cáp điện xét thấy là tài sản hợp pháp của Công ty cổ phần Đ nên cần xem xét trả lại cho công ty.
[6] Về án phí: Bị cáo Tạ Xuân D bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án: Đối với Trần Trọng T3 là giám đốc Công ty cổ phần Đ đã trực tiếp ký hợp đồng lao động với Lò Văn P vào làm việc bảo vệ, bơm nước và theo sự điều động của người quản lý tại công ty. T3 chỉ giao cho Tạ Xuân D quản lý về mặt tài sản đối với Palang cáp điện, chưa giao cho sử dụng. Việc Tạ Xuân D tự ý phân công Lò Văn P là người chưa qua đào tạo, tập huấn sử dụng Palang cáp điện để hàn tấm chắn rác thì Trần Trọng T3 không biết. Vì vậy trách nhiệm của vụ tai nạn lao động thuộc về Tạ Xuân D. Trần Trọng T3 với vai trò là giám đốc công ty chưa thực hiện đầy đủ các quy định về an toàn vệ sinh lao động được nêu tại công văn số 15/ĐTTNLĐ ngày 13/6/2024 của Đoàn điều tra tai nạn Lao động tỉnh Lai Châu và bị Đoàn điều tra tai nạn lao động tỉnh Lai Châu xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 36.000.000 đồng. Vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý Trần Trọng T3 là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Tạ Xuân D phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Xử phạt bị cáo Tạ Xuân D 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng chẵn).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
8
- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) mũ cứng màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) găng tay hàn điện, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho Công ty cổ phần Đ: 01 (một) máy hàn điện nhãn hiệu INVERTER Tiến Đạt có dòng hàn 2000A-EU, đã qua sử dụng; 02 (hai) chốt sắt (ắc) phi 80, dài 30 cm, đường kính nơi rộng nhất 11 cm, nơi hẹp nhất 8 cm, đã qua sử dụng; 01(một) mo hàn điện, đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn dây cáp bằng thép, màu đen, phi 16, dài 3,25 mét, rộng 2cm, hai đầu của dây cáp được cuộn thành vòng tròn, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho Công ty cổ phần Đ: 01 Palang cáp điện loại 10 tấn, 30m có Model: CD1, công suất 13Kw/380v, trọng tải nâng: 10 tấn, chiều cao nâng hạ 30m, tốc độ nâng hạ: 7m/p, tốc độ di chuyển ngang: 20m/p, đã qua sử dụng. (01 Palang cáp điện nêu trên do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đang tạm giao cho Công ty cổ phần Đ quản lý, kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật Công ty cổ phần Đ được quyền quản lý, sử dụng 01 Palang cáp điện nêu trên).
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 09 giờ 30 phút, ngày 17/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Tạ Xuân D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
9
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về vi phạm quy định về an toàn lao động (hình sự)
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội vi phạm quy định về an toàn lao động theo khoản 1 Điều 295 BLHS
