Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Án số: 22/2024/KDTM -ST

Ngày: 28/11/2024

V/v: “Tranh chấp Hợp đồng

cung cấp và thi công lắp đặt”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Minh
  • - Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Văn Bạn
  • Bà Nguyễn Thị Lý
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang: Bà Nguyễn Thị Lựu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 và 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên toà xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 35/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng cung cấp và thi công lắp đặt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST - KDTM ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐXXST – KDTM ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 08/TB-TA ngày 20/5/2024 và Thông báo thời gian xét xử số 40/TA-TB ngày 31/10/2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Công ty cổ phần P
  • Trụ sở: Thôn P, xã P, N, Khánh Hòa.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hồ Minh V – Chức vụ: Giám đốc
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh Bình
  • Địa chỉ: 194 – A2 L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (Theo Giấy ủy quyền ngày 17/8/2023)
  • * Bị đơn: Công ty TNHH A
  • Trụ sở: Ki ốt số 14 Tòa nhà OC3 Mường Thanh Viễn Triều, số C P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Viết T – Chức vụ: Giám đốc.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • 1/ Ông Trần Văn V1
  • Địa chỉ: C T, V, N, Khánh Hòa. Có đơn xin vắng mặt.
  • 2/ Ông Vũ Viết L
  • Địa chỉ: Ki ốt số A Tòa nhà O, số C P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/4/2023 và các lời khai trong quá trình tố tụng tại tòa án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh B trình bày:

Giữa Công ty cổ phần P và Công ty TNHH A có ký kết với nhau Hợp đồng số 0306/2019/HĐTCNT/PMA- ALWAYS WIN ngày 03/06/2019 v/v: Cung cấp thi công lắp đặt Nội thất Khách sạn A1 tại địa điểm: Tầng 3,4,5 tòa OC3 Mường Thanh Viễn Triều – TP .. Nội dung Hợp đồng: Tổng giá trị ký hợp đồng: 6.195.310.621 đồng; Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty CP P đã quyết toán số liệu như sau:

  1. Giá trị Quyết toán hoàn thành theo hợp đồng: 4.665.026.050 đồng (số liệu quyết toán dựa trên hồ sơ nghiệm thu khối lượng nội thất từng loại 01 đến loại 11 đã được đại diện 2 bên giám sát ký ngày 20/05/2020;
  2. Giá trị nội thất phát sinh: 151.744.674 đồng ( số liệu dựa trên Bảng nghiệm thu khối lượng nội thất phát sinh đại diện 2 bên giám sát ký ngày 19/5/2020);
  3. Giá trị phát sinh rèm cửa: 62.299.407 đồng (số liệu dựa trên bảng nghiệm thu khối lượng rèm cửa phát sinh ngày 22/6/2020).

II. Tổng giá trị quyết toán (1)+(2)+(3): 4.879.070.131 đồng ( Bằng chữ: Bốn tỷ tám trăm bảy mươi chín triệu không trăm bảy mươi nghìn một trăm ba mươi mốt đồng).

  • - Giá trị đã xuất hóa đơn GTGT số 0000066 ngày 04/04/2020: 2.701.903.776 đồng
  • - Gía trị chưa xuất hóa đơn: 2.177.166.355 đồng

Công ty P đã phát hành 02 bộ hồ sơ Chất lượng và 02 bộ hồ sơ Quyết toán cho Hợp đồng số 0306/2019/HĐTCNT/PMA- ALWAYS WIN ngày 03/06/2019 trực tiếp đưa cho Ông Vũ Viết T – Giám đốc nhưng ông không ký trả hồ sơ cho Công ty P.

III. Công ty A đã thanh toán cho Công ty P giá trị như sau: Ngày 10/06/2019: 2.478.124.248 đồng; Ngày 09/04/2020: 400.000.000 đồng; Ngày 07/05/2020: 100.000.000 đồng; Ngày 03/06/2020: 185.000.000 đồng. Tổng số tiền Công ty A thanh toán: 3.163.124.248 đồng ( Bằng chữ: Ba tỷ một trăm sáu mươi ba triệu một trăm hai mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi tám đồng).

Trên chứng từ, số liệu ông Vũ Viết T cung cấp giá trị thanh toán cho Tòa có 02 khoản không thuộc hợp đồng này: Ngày 25/12/2019 thanh toán : 43.882.960 đồng (HĐ số 1812/2019/HDTCNT); Ngày 20/02/2020 thanh toán : 74.666.543 đồng (HĐ số 1812/2019/HDTCNT).

Đến ngày 27/11/2024, Công ty A còn nợ Công ty CP P tổng số tiền: 2.484.202.456 đồng (Hai tỷ bốn trăm tám mươi bốn triệu hai trăm lẻ hai nghìn bốn trăm năm mươi sáu đồng). Trong đó: Nợ gốc là (II-III): 1.715.945.883 đồng (Một tỷ bảy trăm mười lăm triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn tám trăm tám mươi ba đồng) và Nợ lãi là: 768.256.573 đồng ( Sáu trăm bảy mươi chín triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm ba mươi hai đồng), lãi suất này tính theo lãi suất vay của ngân hàng Q không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản (Căn cứ vào Điều 10 của hợp đồng). Tính lãi từ tháng 8 năm 2020 đến ngày 27/11/2024. Cụ thể:

  • + Năm 2020: (Tháng 8 đến tháng 12): 1.715.945.883 x 1% x 4 tháng = 68.637.835 đồng
  • + Năm 2021: 1.715.945.883 x 0,975% x 12 tháng = 200.765.000 đồng.
  • + Năm 2022 : 1.715.945.883 x 0.833% x 12 tháng = 171.525.950 đồng
  • + Năm 2023: 1.715.945.883 x 0.833% x 12 tháng = 171.525.950 đồng
  • + Năm 2024: 1.715.945.883 x 0.833% x 10 tháng+27 ngày = 155.801.838 đồng

Vậy đề nghị Tòa án căn cứ vào Biên bản nghiệm thu khối lượng nội thất giám sát hai bên đã ký; căn cứ vào Hồ sơ quyết toán của công ty P đã lập và Căn cứ vào trình bày ông T đã được lập trong Biên bản hòa giải đề nghị tòa yêu cầu Công ty TNHH A thanh toán cho Công ty cổ phần P tổng số tiền gốc và lãi là 2.484.202.456 đồng (Hai tỷ bốn trăm tám mươi bốn triệu hai trăm lẻ hai nghìn bốn trăm năm mươi sáu đồng).

* Bị đơn, ông Vũ Viết T trình bày:

Tôi thừa nhận giữa Công ty TNHH A và Công ty cổ phần P có ký kết với nhau Hợp đồng số 0306/2019/HĐTCNT/PMA- ALWAYS WIN ngày 03/06/2019 v/v :Cung cấp thi công lắp đặt Nội thất Khách sạn ALWAYS WIN tại địa điểm: Tầng 3,4,5 tòa OC3 Mường Thanh Viễn Triều – TP ..

Tuy nhiên thực tế, bên PMA chỉ lắp đặt 02 tầng. Do vậy giá trị hợp đồng là 4.130.207.080 đồng ( Bốn tỷ một trăm ba mươi triệu hai trăm lẻ bảy nghìn không trăm lẻ tám đồng). (đã bao thuế VAT). Trong quá trình lắp đặt có 03 (ba) đợt phát sinh như sau: Đợt 1, ngày 07/5/2020 phát sinh số tiền : 148.255.914 đồng ( Một trăm bốn mươi tám triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn chín trăm mười bốn đồng); Đợt 2, ngày 08/5/2020 số tiền: 39.113.905 đồng (Ba mươi chín triệu một trăm mười ba nghìn chín trăm lẻ năm đồng); Đợt 3, ngày 27/6/2020 với số tiền: 16.037.648 đồng (Mười sáu triệu không trăm ba mươi bảy nghìn sáu trăm bốn mươi tám đồng). Tổng cộng phát sinh là 203.407.467 đồng (Hai trăm lẻ ba triệu bốn trăm lẻ bảy nghìn bốn trăm sáu mươi bảy đồng).

Như vậy, tổng giá trị hợp đồng là 4.333.614.547 đồng (Bốn tỷ ba trăm ba mươi ba triệu sáu trăm mười bốn nghìn năm trăm bốn mươi bảy đồng). Công ty TNHH A đã thanh toán cho phía công ty P là 3.163.124.248 đồng (Ba tỷ một trăm sáu mươi ba triệu một trăm hai mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi tám đồng). Còn nợ công ty P số tiền 1.236.940.796 (Một tỷ hai trăm ba mươi sáu triệu chín trăm bốn mươi nghìn bảy trăm chín mươi sáu đồng).

Phía bị đơn xác nhận giữa hai bên đã thực hiện xong hợp đồng thi công và lắp đặt nêu trên, đã nghiệm thu đầy đủ (Bên Công ty TNHH A chưa ký hồ sơ quyết toán cho bên Công ty cổ phần P do phía Công ty TNHH A có sự thay đổi kế toán nên chưa đối chiếu số liệu được và hiện nay đang gặp khó khăn về nguồn vốn hoạt động nên chưa thực hiện đầy đủ điều khoản thanh toán cho phía Công ty cổ phần P).

Công ty TNHH A đồng ý thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc cho Công ty cổ phần P trong vòng 12 tháng, thanh toán 3 tháng 1 lần cho đến hết số tiền nợ gốc. Phía bị đơn xin được miễn tiền lãi mà phía nguyên đơn yêu cầu.

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm: Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong việc giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét một cách toàn diện, công khai tại phiên tòa.

Vì vậy việc nguyên đơn, Công ty cổ phần P yêu cầu bị đơn, Công ty TNHH A phải thanh toán số tiền 2.484.202.456 đồng (Hai tỷ bốn trăm tám mươi bốn triệu hai trăm lẻ hai nghìn bốn trăm năm mươi sáu đồng) bao gồm cả tiền còn chưa thanh toán và lãi suất do chậm thanh toán theo hợp đồng là có cơ sở để chấp nhận.

Bởi các lẽ trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án;
  • - Căn cứ Điều 50, 55, 306 Luật thương mại.
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Để giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
  • + Buộc bị đơn Công ty TNHH A phải thanh toán số tiền 2.484.202.456 đồng (Hai tỷ bốn trăm tám mươi bốn triệu hai trăm lẻ hai nghìn bốn trăm năm mươi sáu đồng) bao gồm cả tiền còn chưa thanh toán và lãi suất do chậm thanh toán theo hợp đồng.
  • - Án phí: Bị đơn phải chịu án phí KDTM-ST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Công ty cổ phần P khởi kiện Công ty TNHH A có địa chỉ trụ sở tại K Tòa nhà O, số C P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

[1.2] Về quan hệ tranh chấp: Công ty cổ phần P khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH A thực hiện điều khoản thanh toán trong “Hợp đồng cung cấp và thi công lắp đặt”. Cả hai công ty đều có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận nên đây là quan hệ tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại được quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang thụ lý giải quyết vụ án kinh doanh thương mại nêu trên là có căn cứ.

[1.2] Về thủ tục:

Bị đơn Công ty TNHH A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Viết L đã được Tòa án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt không có lý do, người có quyền lợi, nghĩa vụ liện quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

Công ty cổ phần P và Công ty TNHH A thực tế có ký kết Hợp đồng số 0306/2019/HĐTCNT/PMA- ALWAYS WIN ngày 03/06/2019 v/v: Cung cấp thi công lắp đặt nội thất Khách sạn ALWAYS WIN tại địa điểm: Tầng 3,4,5 tòa OC3 M, N. Hai bên đều xác nhận đã thực hiện xong hợp đồng, đã nghiệm thu đầy đủ và công ty cổ phần P đã bàn giao công trình, phía Công ty TNHH A đã đưa công trình vào sử dụng. Công ty TNHH A thừa nhận đã nhận được Hồ sơ quyết toán, cũng như Biên bản đối chiếu công nợ nhưng phía bị đơn chưa ký hồ sơ quyết toán cho bên Công ty cổ phần P do phía Công ty TNHH A có sự thay đổi về kế toán, nên chưa đối chiếu được số liệu. (Bản tự khai ngày 25/8/2023) và công ty H1 đang gặp khó khăn về nguồn vốn hoạt động nên chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán theo quyết toán hợp đồng 0306/2019/HĐTCNT/PMA- ALWAYS WIN ngày 03/06/2019 cho phía Công ty cổ phần P. Nay Công ty cổ phần P yêu cầu Công ty TNHH A phải thanh toán toàn bộ số tiền chưa thanh toán theo hợp đồng là 1.715.945.883 đồng (Một tỷ bảy trăm mười lăm triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn tám trăm tám mươi ba đồng) và tiền lãi chậm thanh toán là: 768.256.573 đồng (Sáu trăm bảy mươi chín triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm ba mươi hai đồng), lãi suất này tính theo lãi suất vay của ngân hàng Q không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản (Căn cứ vào Điều 10 của hợp đồng), tiền lãi từ tháng 8 năm 2020 đến ngày 27/11/2024.

Công ty TNHH A đồng ý thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc cho Công ty cổ phần P trong vòng 12 tháng, thanh toán 3 tháng 1 lần cho đến hết số tiền nợ gốc. Phía bị đơn xin được miễn tiền lãi mà phía nguyên đơn yêu cầu.

1.1/ Về yêu cầu trả số tiền chưa thanh toán: Căn cứ vào sự thừa nhận của hai bên xác định Hợp đồng số 0306/2019/HĐTCNT/PMA- ALWAYS WIN ngày 03/06/2019 v/v: Cung cấp thi công lắp đặt nội thất Khách sạn ALWAYS WIN giữa Công ty cổ phần P và Công ty TNHH A đã được thực hiện xong, nhưng Công ty TNHH A chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán.

Hội đồng xét xử xét thấy: Công ty cổ phần P đã lập hồ sơ quyết toán đầy đủ dựa trên cơ sở các biên bản nghiệm thu công trình do giám sát 02 bên ký ngày 20/5/2020, ngày 19/5/2020 và ngày 22/6/2020 thể hiện giá trị quyết toán công việc thực hiện có tổng giá trị 4.879.070.131 đồng (Bốn tỷ tám trăm bảy mươi chín triệu không trăm bảy mươi nghìn một trăm ba mươi mốt đồng) (bao gồm 02 đợt phát sinh). Công ty TNHH A đã thanh toán cho Công ty cổ phần P số tiền 3.163.124.248 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ một trăm sáu mươi ba triệu một trăm hai mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi tám đồng). Bị đơn trình bày thống nhất với nguyên đơn về số tiền đã thanh toán cho nguyên đơn, tuy nhiên do giá trị quyết toán của hợp đồng là 4.333.614.547 đồng ( Bốn tỷ ba trăm ba mươi ba triệu sáu trăm mười bốn nghìn năm trăm bốn mươi bảy đồng) (Bao gồm 03 đợt phát sinh) nên số tiền còn lại chưa thanh toán là 1.236.940.796 đồng (Một tỷ hai trăm ba mươi sáu triệu chín trăm bốn mươi nghìn bảy trăm chín mươi sáu đồng). Tòa án đã ban hành Quyết định yêu cầu việc giao nộp chứng cứ, đã tống đạt cho bị đơn nhưng bị đơn không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng từ liên quan nào. Tất cả các hóa đơn, chứng từ bị đơn đã thanh toán cho phía nguyên đơn cũng là nguyên đơn giao nộp. Tài liệu, chứng từ mà phía nguyên đơn cung cấp phù hợp với yêu cầu khởi kiện nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc là 1.715.945.883 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bảy trăm mười lăm triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn tám trăm tám mươi ba đồng). Do vậy, Công ty TNHH A không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết và xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của Công ty cổ phần P. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền còn lại theo quyết toán giá trị Hợp đồng số 0306/2019/HĐTCNT/PMA- ALWAYS WIN ngày 03/06/2019 v/v: Cung cấp thi công lắp đặt Nội thất Khách sạn A1 tòa OC3 Mường Thanh Viễn Triều – TP . là có căn cứ để chấp nhận.

Về yêu cầu của Công ty TNHH A xin được trả dần trong vòng 12 tháng, 03 tháng 01 lần. Xét việc Công ty TNHH A chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với Công ty cổ phần P đã chiếm dụng vốn của Công ty cổ phần P một thời gian tương đối dài, bên cạnh đó, Công ty TNHH A không có thiện chí trả nợ nên xin trả dần ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do vậy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin trả dần của Công ty TNHH A.

2.2/ Về yêu cầu lãi suất của nguyên đơn: Bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận cam kết giữa các bên, xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của nguyên đơn Công ty cổ phần P nên phải thanh toán tiền lãi suất chậm trả là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật nên chấp nhận. Mức lãi suất chậm thanh toán mà nguyên đơn yêu cầu là phù hợp với quy định lãi suất ngân hàng từng thời kỳ nên có căn cứ chấp nhận theo quy định Điều 306 Luật thương mại.

Cụ thể:

  • + Năm 2020: (Tháng 8 đến tháng 12): 1.715.945.883 x 1% x 4 tháng = 68.637.835 đồng;
  • + Năm 2021: 1.715.945.883 x 0,975% x 12 tháng = 200.765.000 đồng.
  • + Năm 2022 : 1.715.945.883 x 0.833% x 12 tháng = 171.525.950 đồng
  • + Năm 2023: 1.715.945.883 x 0.833% x 12 tháng = 171.525.950 đồng
  • + Năm 2024: 1.715.945.883 x 0.833% x 10 tháng+27 ngày = 155.801.838 đồng.

Tổng số tiền lãi là 768.256.573 đồng ( Sáu trăm bảy mươi chín triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm ba mươi hai đồng).

Do vậy nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bị đơn Công ty TNHH A phải thanh toán cho nguyên đơn Công ty cổ phần P số tiền số tiền gốc và lãi là 2.484.202.456 đồng (Hai tỷ bốn trăm tám mươi bốn triệu hai trăm lẻ hai nghìn bốn trăm năm mươi sáu đồng). Trong đó: Tiền gốc là 1.715.945.883 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bảy trăm mười lăm triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn tám trăm tám mươi ba đồng) và tiền lãi là 768.256.573 đồng ( Sáu trăm bảy mươi chín triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm ba mươi hai đồng).

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật. Cụ thể án phí bị đơn phải chịu 81.684.049 đồng (T1 mươi mốt triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn không trăm bốn mươi chín đồng) tiền án phí KDTMST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng Điều 306 Luật Thương mại;
  • - Điều 513, Điều 514 và Điều 519 Bộ luật Dân sự 2015.
  • - Áp dụng Điều 35, Điều 39, Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng khoản 2 Điều 26, Nghị quyết số 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty cổ phần P.

Buộc Công ty TNHH A phải thanh toán cho Công ty cổ phần P số tiền nợ gốc là 1.715.945.883 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bảy trăm mười lăm triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn tám trăm tám mươi ba đồng) và tiền lãi là 768.256.573 đồng ( Sáu trăm bảy mươi chín triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm ba mươi hai đồng). Tổng cộng hai khoản Công ty TNHH A phải thanh toán cho Công ty cổ phần P số là 2.484.202.456 đồng (Hai tỷ bốn trăm tám mươi bốn triệu hai trăm lẻ hai nghìn bốn trăm năm mươi sáu đồng).

Về án phí: Công ty TNHH A phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 81.684.049 đồng (T1 mươi mốt triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn không trăm bốn mươi chín đồng).

H lại số tiền 37.484.000 đồng (Ba mươi bảy triệu bốn trăm tám mươi bốn nghìn) cho Công ty cổ phần P tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0011655 ngày 19/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.

Quy định: Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND Tp. Nha Trang;
  • - CCTHADS Tp. Nha Trang;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/KDTM -ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng cung cấp và thi công lắp đặt

  • Số bản án: 22/2024/KDTM -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng cung cấp và thi công lắp đặt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp điều khoản thanh toán
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger