TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày 28-11-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tòng Văn Máy.
Ông Lò Văn Khẹt.
Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Xuân H, tên gọi khác Hải B
sinh ngày 30/12/2000, tại Í, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu A, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Xuân S, đã chết và con bà Bùi Thị T, sinh năm 1977; chưa có vợ con; Tiền án: Tại bản án số 51/2019/HSST ngày 19/8/2019 Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích; tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Lò Văn H1,
sinh ngày 09/12/2002, tại H, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Mển, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T1, sinh năm 1973 và con bà Lò Thị X, sinh năm 1974; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn H1: Ông Nguyễn Phương V. Luật sư - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T3, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Trần Tuấn A,
sinh ngày 21/6/1988, tại B, K, Thái Bình; Nơi ĐKHKTT: Tổ F, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lái xe Điện lực huyện M, tỉnh Sơn La; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H2, sinh năm 1969 và con bà Trần Thị V1, sinh năm 1968; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bùi Thị T, sinh năm 1977, địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Lò Thị K, sinh năm 2002, địa chỉ: Bản C, xã P, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Tạm trú: Tiểu khu E, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Quàng Văn T2, sinh năm 1993, địa chỉ: Bản C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phan Xuân H, Lò Văn H1 và Trần Tuấn A bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 17 giờ 40 phút ngày 02/7/2024, tại tiểu khu D, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La Công an phát hiện và bắt quả tang Lò Văn H1, sinh ngày 09/12/2002 ở bản M, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ:
- 01 túi ni lon màu trắng, bên trong có chứa 21 viên nén màu hồng, trên mặt có ký hiệu WY. Do Lò Văn H1 tự giác giao nộp khai là M, khai do Phan Xuân H sinh năm 2000, ở tiểu khu A,thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La nhờ đi mua mang về bán kiếm lời.
- 01 gói ni lon màu xanh, bên trong có chứa cục bột màu trắng, Lò Văn H1 khai là Heroine để bán và sử dụng.
- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, qua sử dụng.
Ngày 02/7/2024 Công an bắt giữ và khám xét khẩn cấp đối với Phan Xuân H.
Vật chứng thu giữ:
- 01 túi ni lon màu trắng, bên trong có chứa 40 viên nén màu hồng, trên mặt có ký hiệu WY, thu giữ trong túi quần bên trái treo trong tủ. khai là Methamphetamine để bán.
- 01 chiếc điện thoại màn hình cảm ứng màu đen, nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, qua sử dụng.
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu xám, BKS 27B2-376.46, qua sử dụng. Thu giữ của Phan Xuân H.
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu trắng, BKS 26B1-729.39, qua sử dụng. Thu giữ của Phan Xuân H.
Phan Xuân H khai ra còn cất giấu ở phòng trọ của Trần Tuấn A, sinh ngày 21/6/1988, ở tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La.
Ngày 02/7/2024 Công an bắt giữ và khám xét khẩn cấp đối với Trần Tuấn A. Vật chứng thu giữ:
- 01 túi ni lon màu trắng, bên trong có chứa 15 viên nén màu hồng, trên mặt có ký hiệu WY, thu giữ trên thành tường nhà vệ sinh khai là Methamphetamine để bán.
- 01 túi ni lon màu hồng, bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng, trên mặt có ký hiệu WY, cất giấu trong thể nhân viên của Trần Tuấn A. khai là Methamphetamine để sử dụng;
- 06 lọ nhựa màu trắng ở phần thân lọ có gắn ống hút, thu giữ dưới gầm giường. Trần Tuấn A khai là dụng cụ để sử dụng ma túy.
- 02 bật lửa màu đỏ; 01 cuộn giấy bạc; 01 thẻ an toàn thủy cơ, nhiệt hóa (thẻ nhân viên);
- 01 chiếc điện thoại màn hình cảm ứng màu xám bạc, nhãn hiệu Iphone 6s, qua sử dụng.
Ngày 02/7/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
Vật chứng thu giữ của Lò Văn H1:
- 01 gói ni lon màu xanh, bên trong có chứa cục bột màu trắng, Do Lò Văn H1 tự giác giao nộp khai là H3 có khối lượng 0,21 gam, lấy 0,09 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu H1
- 01 túi ni lon màu trắng, bên trong có chứa 21 viên nén màu hồng, trên mặt có ký hiệu WY. Do Lò Văn H1 tự giác giao nộp khai là Methamphetamine có khối lượng 2,14 gam, lấy 0,50 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu HH1;
Vật chứng thu giữ của Phan Xuân H:
- 01 túi ni lon màu trắng, bên trong có chứa 40 viên nén màu hồng, trên mặt có ký hiệu WY, Phan Xuân H khai là Methamphetamine có khối lượng 4,05 gam, lấy 0,51 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu HH2;
Vật chứng thu giữ của Trần Tuấn A:
- 01 túi ni lon màu hồng, bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng, trên mặt có ký hiệu WY, Trần Tuấn A khai là Methamphetamine có khối lượng 0,11 gam, lấy 0,11 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu A1;
- 01 túi ni lon màu trắng, bên trong có chứa 15 viên nén màu hồng, trên mặt có ký hiệu WY. Trần Tuấn A khai là Methamphetamine có khối lượng 1,5 gam, lấy 0,51 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu A2;
Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 1427/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận:
- Mẫu ký hiệu H1 là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là H1 là 0,09 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,21 gam Heroine.
- Mẫu ký hiệu HH1, HH2 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định là HH1 là 0,50 gam; HH2 là 0,51 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 6,19 gam Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số: 1428/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận:
- Mẫu ký hiệu A1, A2 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định là A1 là 0,11 gam; A2 là 0,51 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 1,65 gam Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Phan Xuân H, Lò Văn H1, Trần Tuấn A, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra Phan Xuân H, Lò Văn H1, Trần Tuấn A khai nhận:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 01/7/2024 Lò Văn H1 đến nhà Phan Xuân H ở Tiểu khu A, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La có trao đổi để tìm mua ma túy, hai người nhất trí. Phan Xuân H đưa cho Lò Văn H1 4.400.000, đồng và đưa xe máy chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu trắng, BKS 26B1-729.39 để Lò Văn H1 đi đến xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái. Tại đây Lò Văn H1 gặp một người dân tộc mông tên C, không biết họ và địa chỉ. Trao đổi mua 4.300.000, đồng ma túy loại hồng phiến và 100.000, đồng loại Heroine. Sau khi có ma túy Lò Văn H1 sử dụng một ít. Số còn lại mang về đưa cho Phan Xuân H và được Phan Xuân H trả công cho 21 viên hồng phiến. Phan Xuân H mang số ma túy về chia ra một gói 15 viên và một gói 40 viên. Sau đó mang gói 15 viên xuống phòng trọ của Trần Tuấn A ở tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La cất giấu trên thành tường nhà vệ sinh, lúc cất Trần Tuấn A đang ngủ không biết. Đến hồi 17 giờ 40 phút ngày 02/7/2024 Lò Văn H1 đi chơi về thì Công an phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng.
Trước đó khoảng tháng 5/2024 Phan Xuân H nhờ Lò Văn H1 mua ma túy ba đến bốn lần mỗi lần từ 2.000.000, đồng đến 4.000.000, đồng và đều trả công cho Lò Văn H1 bằng ma túy và tiền. Số ma túy được chia ra một phần Phan Xuân H cất giữ để sử dụng và bán. Một phần mang cất giấu ở phòng trọ của Trần Tuấn A ở tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Phan Xuân H nhiều lần nhờ Trần Tuấn A bán hộ ma túy.
Ngày 30/5/2024 Phan Xuân H nhờ Trần Tuấn A gói 05 viên hồng phiến để bán cho một người.
Ngày 10/6/2024 Phan Xuân H nhờ Trần Tuấn A gói 10 viên hồng phiến để bán cho một người.
Ngày 18/6/2024 Phan Xuân H bán cho Quàng Văn T2 ở bản C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La 02 viên hồng phiến với số tiền 200.000, đồng. Phan Xuân H đã giao ma túy và chưa nhận tiền.
Ngày 29/6/2024 Phan Xuân H bán cho Trần Tuấn A 02 viên hồng phiến với số tiền 200.000, đồng. Phan Xuân H đã giao ma túy và đã nhận tiền.
Bị cáo Phan Xuân H và Trần Tuấn A khai ra hành vi tổ chức sử dụng ma túy:
Khoảng 21 giờ ngày 26/6/2024 Phan Xuân H đến phòng trọ của Trần Tuấn A, Phan Xuân H rủ Trần Tuấn A sử dụng ma túy. Phan Xuân H cung cấp ma túy 01 viên hồng phiến, còn Trần Tuấn A cung cấp, địa điểm (phòng trọ) tẩu hút, giấy bạc, bật lửa cùng nhau đốt hít vào cơ thể.
Khoảng 19 giờ ngày 29/6/2024 Phan Xuân H đến phòng trọ của Trần Tuấn A, Trần Tuấn A mua ma túy của Phan Xuân H, đồng thời cung cấp 01 viên hồng phiến, cung cấp tẩu hút, giấy bạc, bật lửa cùng Phan Xuân H đốt hít vào cơ thể.
Khoảng 22 giờ ngày 29/6/2024 Phan Xuân H đến phòng trọ của Trần Tuấn A, Phan Xuân H rủ Trần Tuấn A sử dụng ma túy. Phan Xuân H cung cấp ma túy 01 viên hồng phiến, còn Trần Tuấn A cung cấp tẩu hút, giấy bạc, bật lửa cùng nhau đốt hít vào cơ thể.
Về nguồn gốc số ma túy Phan Xuân H, Trần Tuấn A để bán, sử dụng và cho Lò Văn H1 cất giữ để bán và sử dụng. Phan Xuân H, Lò Văn H1 khai mua của một người đàn ông tên C không biết, địa chỉ ở xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Phan Xuân H và Lò Văn H1.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phan Xuân H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Lò Văn H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Trần Tuấn A đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 145/CT-VKS-ML ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo:
Phan Xuân H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Lò Văn H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trần Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phan Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm b, i, q khoản 2 Điều 251; điểm a, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm r, s, t khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Phan Xuân H từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt Phan Xuân H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”;
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Tuyên bố các bị cáo Lò Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s, r, t khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lò Văn H1 từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Trần Tuấn A từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt Trần Tuấn A từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt Trần Tuấn A từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”;
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu trắng; 0,12 gam Heroine; 1,64 gam + 3,54 + 1,03 gam Methamphetamine (được niêm phong); 06 lọ nhựa màu trắng ở phần thân lọ có gắn ống hút; 02 bật lửa màu đỏ; 01 cuộn giấy bạc; 01 thẻ an toàn thủy cơ, nhiệt hóa (thẻ nhân viên).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước:
- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, qua sử dụng, thu giữ của Lò Văn H1.
- 01 chiếc điện thoại màn hình cảm ứng màu đen, nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, qua sử dụng, thu giữ của Phan Xuân H.
- 01 chiếc điện thoại màn hình cảm ứng màu xám bạc, nhãn hiệu Iphone 6s, qua sử dụng, thu giữ của Trần Tuấn A.
Buộc Phan Xuân H phải nộp truy thu sung nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) do mua bán ma túy cho Trần Tuấn A mà có đã chi tiêu hết.
Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho:
Bà Bùi Thị T, sinh năm 1977, địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu trắng, BKS 26B1-729.39, qua sử dụng. Phan Xuân H sử dụng vào việc phạm tội mua bán ma túy bà Bùi Thị T không biết.
Chị Lò Thị K, sinh năm 2002, địa chỉ: Bản C, xã P, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu xám, BKS 27B2-376.46, qua sử dụng. Thu giữ của Phan Xuân H. Phan Xuân H sử dụng vào việc phạm tội mua bán ma túy chị Lò Thị K không biết.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn H1 do thuộc hộ nghèo.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Phan Xuân H và Trần Tuấn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, những người liên quan nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn H1 phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Phan Xuân H, Lò Văn H1:
Phan Xuân H, Lò Văn H1 thừa nhận: Ngày 02/7/2024 Phan Xuân H đã thực hiện hành vi đưa cho Lò Văn H1 4.400.000, đồng để mua ma túy về bán và sử dụng. Số ma túy Phan Xuân H và Lò Văn H1 cất giữ để bán và sử dụng là 7,73 gam Methamphetamine.
Trong đó số ma túy Lò Văn H1 cất giữ để bán và sử dụng là 2,14 gam Methamphetamine và 0,21 gam Heroine (được Phan Xuân H trả công).
Ngoài ra bị cáo Phan Xuân H và Lò Văn H1 khai ra trước đó từ tháng 5/2024 hai người đã thựa hiện hành vi Phan Xuân H đưa tiền từ 2.000.000, đồng đến 4.000.000, đồng cho Lò Văn H1 đi mua ma túy về để sử dụng và bán. Mỗi lần Phan Xuân H đều trả công cho Lò Văn H1 bằng tiền hoặc ma túy.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định, lời khai của người mua ma túy.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Đối với bị cáo Phan Xuân H đã có tiền án: Tại bản án số 51/2019/HSST ngày 19/8/2019 Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phan Xuân H đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích nay lại phạm tội rất nghiêm trọng. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự là tái phạm nguy hiểm. Phan Xuân H đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm b “Phạm tội hai lần trở lên”, i “Khối lượng Methamphetamine từ 05 gam đến dưới 30 gam”, q “Tái phạm nguy hiểm” khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Lò Văn H1 đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm b “Phạm tội hai lần trở lên”, p (Có hai chất ma túy trở lên tổng khối lượng 7,73 gam Methamphetamine + 0,21 gam Heroine = 7,94 gam) khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét hành vi phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của Phan Xuân H và Trần Tuấn A:
Phan Xuân H và Trần Tuấn A khai ra hành vi: Ngày 26/7/2024 và hai lần ngày 29/6/2024, tại phòng trọ của Trần Tuấn A ở tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Trần Tuấn A cung cấp địa điểm, cung cấp ống hút, giấy bạc, bật lửa. Phan Xuân H cung cấp ma túy cho hai người sử dụng (đốt hít) Methamphetamine vào cơ thể.
Xét thấy: Hành vi hành vi cung cấp địa điểm, ống hút, giấy bạc, bật lửa của Trần Tuấn A và hành vi cung cấp Methamphetamine của Phan Xuân H để cho hai người đốt hít ma túy (Methamphetamine) vào cơ thể đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phan Xuân H và Trần Tuấn A đã thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Phan Xuân H phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm a, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[4]. Xét hành vi phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý của Phan Xuân H và Trần Tuấn A:
Phan Xuân H và Trần Tuấn A khai ra hành vi: Ngày 30/5/2024 Phan Xuân H nhờ Trần Tuấn A gói 05 viên hồng phiến để bán cho một người. Ngày 10/6/2024 Phan Xuân H nhờ Trần Tuấn A gói 10 viên hồng phiến để bán cho một người. Ngày 18/6/2024 Phan Xuân H bán cho Quàng Văn T2 ở bản C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La 02 viên hồng phiến với số tiền 200.000, đồng. Phan Xuân H đã giao ma túy và chưa nhận tiền và Ngày 29/6/2024 Phan Xuân H bán cho Trần Tuấn A 02 viên hồng phiến với số tiền 200.000, đồng. Phan Xuân H đã giao ma túy và đã nhận tiền.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phan Xuân H và Trần Tuấn A đã thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5]. Xét hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý của Trần Tuấn A:
Trần Tuấn A thừa nhận hành vi: Ngày 02/7/2024, tại phòng trọ của Trần Tuấn A ở tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 viên Methamphetamine có khối lượng 0,11 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Trần Tuấn A đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[6]. Xét về vai trò đồng phạm trong vụ án:
[6.1]. Xét về vai trò đồng phạm trong tội mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Phan Xuân H và Lò Văn H1: Bị cáo Phan Xuân H là chủ mưu cung cấp tiền mua ma túy, cung cấp xe máy cho bị cáo Lò Văn H1 đi mua ma túy, nên bị cáo Lò Văn H1 tham gia với vai trò giúp sức. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xem xét lên mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo.
[6.2]. Xét về vai trò đồng phạm trong tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo Phan Xuân H và Trần Tuấn A: Bị cáo Phan Xuân H là chủ mưu cấp ma túy, Trần Tuấn A cung cấp địa điểm và chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy, nên bị cáo Trần Tuấn A tham gia với vai trò giúp sức. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xem xét lên mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo.
[6.3]. Xét về vai trò đồng phạm trong tội mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Phan Xuân H và Trần Tuấn A: Bị cáo Phan Xuân H là chủ mưu cung cấp ma túy, tìm người mua ma túy. Trần Tuấn A giúp sức gói ma túy để cho Phan Xuân H bán. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xem xét lên mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo.
[7]. Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
[7.1]. Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo đều phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.
[7.2]. Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo Phan Xuân H có tiền án chưa được xóa án tích, không có tiền sự. Bị cáo Lò Văn H1 và Trần Tuấn A đều chưa có tiền án, tiền sự.
[7.3].Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lò Văn H1 tại phiên tòa thật thà khai báo. Khai ra hành vi phạm tội mua bán ma túy trước đó của bị cáo là tự thú và khai ra hành vi phạm tội mua bán ma túy của Phan Xuân H là đã tích cực hợp tác phát hiện tội phạm là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Phan Xuân H tại phiên tòa thật thà khai báo. Khai ra hành vi phạm tội mua bán ma túy trước đó của bị cáo là tự thú. Khai ra hành vi phạm tội của Trần Tuấn A, xác định là lời khai thể hiện sự hợp tác tích cực với cơ quan có trách nhiệm trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Trần Tuấn A tại phiên tòa thật thà khai báo. Khai ra hành vi phạm tội Tổ chức sử dụng ma túy trước đó của bị cáo là tự thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8]. Do bị cáo Phan Xuân H và Trần Tuấn A phạm nhiều tội cần căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội.
[9]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.
[10]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu trắng; 0,12 gam Heroine; 1,64 gam + 3,54 + 1,03 gam Methamphetamine (được niêm phong); 06 lọ nhựa màu trắng ở phần thân lọ có gắn ống hút; 02 bật lửa màu đỏ; 01 cuộn giấy bạc; 01 thẻ an toàn thủy cơ, nhiệt hóa (thẻ nhân viên).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước:
- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, qua sử dụng, thu giữ của Lò Văn H1.
- 01 chiếc điện thoại màn hình cảm ứng màu đen, nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, qua sử dụng, thu giữ của Phan Xuân H.
- 01 chiếc điện thoại màn hình cảm ứng màu xám bạc, nhãn hiệu Iphone 6s, qua sử dụng, thu giữ của Trần Tuấn A.
Buộc Phan Xuân H phải nộp truy thu sung nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) do mua bán ma túy cho Trần Tuấn A mà có đã chi tiêu hết.
Đối với các lần bán ma túy do Phan Xuân H và Trần Tuấn A cùng bán nhưng không nhớ người mua và số tiền bán được nên không có căn cứ xem xét giải quyết.
Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho:
Bà Bùi Thị T, sinh năm 1977, địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu trắng, BKS 26B1-729.39, qua sử dụng. Phan Xuân H sử dụng vào việc phạm tội mua bán ma túy bà Bùi Thị T không biết.
Chị Lò Thị K, sinh năm 2002, địa chỉ: Bản C, xã P, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu xám, BKS 27B2-376.46, qua sử dụng. Thu giữ của Phan Xuân H. Phan Xuân H sử dụng vào việc phạm tội mua bán ma túy chị Lò Thị K không biết.
[11]. Xét các vấn đề liên quan khác trong vụ án:
Về nguồn gốc số ma túy Phan Xuân H, Trần Tuấn A để bán, sử dụng và cho Lò Văn H1 cất giữ để bán và sử dụng. Phan Xuân H, Lò Văn H1 khai mua của một người đàn ông tên C không biết, địa chỉ ở xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Phan Xuân H và Lò Văn H1. Nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.
Đối với Quàng Văn T2 ở bản C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La mua 02 viên hồng phiến với số tiền 200.000, đồng của Phân Xuân H4. Quàng Văn T2 đã bị truy tố, xét xử bằng vụ án khác.
Do bị cáo Lò Văn H1 thuộc hộ nghèo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Phan Xuân H và Trần Tuấn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phan Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm b, i, q khoản 2 Điều 251; điểm a, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm r, s, t khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 2 Điều 53; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Phan Xuân H 09 (chín) năm về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt Phan Xuân H từ 08 (tám) năm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”;
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội.
Buộc Phan Xuân H phải chấp hành hình phạt chung là 17 (mười bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/7/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
2. Tuyên bố bị cáo Lò Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s, r, t khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lò Văn H1 08 (tám) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/7/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
3. Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Trần Tuấn A 18 (mười tám) tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt Trần Tuấn A từ 07 (bẩy) năm về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt Trần Tuấn A 07 (bẩy) năm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”;
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội.
Buộc Trần Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/7/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
4. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu trắng; 0,12 gam Heroine; 1,64 gam + 3,54 + 1,03 gam Methamphetamine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 02/7/2024); 06 lọ nhựa màu trắng ở phần thân lọ có gắn ống hút; 02 bật lửa màu đỏ; 01 cuộn giấy bạc; 01 thẻ an toàn thủy cơ, nhiệt hóa, (thẻ nhân viên).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước:
- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, có 01 sim Viettel số 0368.279.xxx, qua sử dụng, thu giữ của Lò Văn H1.
- 01 chiếc điện thoại màn hình cảm ứng màu đen, nhãn hiệu S1 A23, 01 sim Itel số +84877778183, qua sử dụng, thu giữ của Phan Xuân H.
- 01 chiếc điện thoại màn hình cảm ứng màu xám bạc, nhãn hiệu Iphone 6s, có 01 sim Viettel số 0971.457.xxx, qua sử dụng, thu giữ của Trần Tuấn A.
(03 điện thoại được niêm phong theo biên bản kiểm tra thông tin điện thoại ngày 03/10/2024).
Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Buộc Phan Xuân H phải nộp truy thu sung nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) do mua bán ma túy cho Trần Tuấn A mà có đã chi tiêu hết.
Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho:
Bà Bùi Thị T, sinh năm 1977, địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu trắng, BKS 26B1-729.39, qua sử dụng.
Chị Lò Thị K, sinh năm 2002, địa chỉ: Bản C, xã P, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu xám, BKS 27B2-376.46, qua sử dụng.
5. Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn H1 do thuộc hộ nghèo.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phan Xuân H, Trần Tuấn A phải chịu mỗi người 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 28/10/2024. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự số 22, ngày 28/11/2024
