Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÔN ĐẢO

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày: 28-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Túy.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Tống Thế Tuyên.

- Bà Bùi Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Toà án nhân dân huyện Côn Đảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo tham gia phiên toà: Ông Bùi Hữu Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Văn P, sinh năm 1994 tại Kiên Giang. Nơi thường trú: Tổ A, Ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Nơi tạm trú: Ấp B, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Đi biển; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn L và bà Ngô Thị Ú; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/9/2024 cho đến ngày xét xử “có mặt”.

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1975. Địa chỉ: ấp C, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu “vắng mặt”.

2. Ông Nguyễn Chí T1, sinh năm 1960. Địa chỉ: ấp A, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 02/9/2024, tàu cá BL93042TS do ông Nguyễn Ngọc T làm thuyền trưởng neo đậu trên vùng biển có toạ độ 8043′58″N - 106040′17″E cách Cảng hàng không C khoảng 03 hải lý. Võ Văn P làm thuyền viên trên tàu cá nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại của ông Nguyễn Ngọc T và ông Nguyễn Chí T1 để bán lấy tiền bỏ trốn, không làm việc cho ông T nữa. P điện thoại cho một người đàn ông làm nghề chạy đò (không xác minh được nhân thân) chở P vào C. Khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, P lấy trộm điện thoại di động hiệu OPPO A16 của ông T1 đang cắm sạc để trên thùng nhớt màu đỏ, cạnh chỗ ông T1 nằm ngủ. P tiếp tục lấy trộm điện thoại di động hiệu OPPO A57 của ông T để trên vách Cabin cạnh chỗ ông T nằm ngủ. Sau khi lấy được 02 (hai) điện thoại P bật chế độ máy bay, bỏ điện thoại vào trong túi đựng áo mưa màu xanh đen rồi đi đò vào C.

Khoảng 05 giờ 00 ngày 03/9/2024, ông T phát hiện bị mất điện thoại cùng việc P bỏ trốn lên đảo nên báo cho anh trai là ông Nguyễn Ngọc S biết. Ông S đến Công an huyện C để tố giác P về hành vi trộm cắp tài sản.

Tại kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS, ngày 09/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A16, màu xanh, số Seri: KVDARWIFIB8L5TVO đã qua sử dụng có giá 1.100.000đ (một triệu một trăm ngàn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A57, màu đen, số Seri: 79WO89ONJ7N7R47H đã qua sử dụng có giá 1.367.000đ (một triệu ba trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).

Tổng giá trị của 02 (hai) chiếc điện thoại di động là 2.467.000đ (hai triệu bốn trăm sáu mươi bảy ngàn đồng) (BLĐT: 18-27).

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng

- Đồ vật, tài liệu tạm giữ: Khi đến cơ quan công an làm việc, Võ Văn P tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động hiệu OPPO A16, màu xanh, số Seri: KVDARWIFIB8L5TVO và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57, màu đen, số Seri: 79WO89ONJ7N7R47H (BLĐT: 55).

- Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định: Điện thoại di động OPPO A16, màu xanh là tài sản sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Chí T1; điện thoại di động hiệu OPPO A57, màu đen là tài sản sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Ngọc T. Ngày 18/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Quyết định xử lý vật chứng số 305, 306/QĐ-ĐTTH trao trả cho chủ sở hữu. Ông T1 và ông T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu P bồi thường.

Đối với người chạy đò chở Võ Văn P vào C ngày 02/9/2024, P không biết nhân thân, lai lịch, đặc điểm nhận dạng, không biết việc P trộm cắp điện thoại rồi bỏ trốn. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C không có căn cứ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 26/CT-VKSCĐ ngày 11/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Võ Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Văn P mức án từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo P bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự nên đề nghị đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả điện thoại di động OPPO A16, cho ông Nguyễn Chí T1; trả lại điện thoại di động hiệu OPPO A57, cho ông Nguyễn Ngọc T nên đề nghị đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố, không tranh tụng tại phiên tòa và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 02/9/2024, tại tàu cá BL93042TS neo đậu trên vùng biển có tọa độ 8043'58"N - 106040′17″E cách Cảng hàng không C khoảng 03 hải lý; bị cáo Võ Văn P đã có hành vi lén lút trộm cắp 02 điện thoại di động OPPO A16, OPPO A57 của ông Nguyễn Chí T1 và ông Nguyễn Ngọc T với tổng giá trị là 2.467.000đ (hai triệu bốn trăm sáu mươi bảy ngàn đồng). Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi “Trộm cắp tài sản” là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Sự cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo để quyết định một mức hình phạt phù hợp.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Như vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Đối với người chạy đò chở Võ Văn P vào C ngày 02/9/2024, P không biết nhân thân, lai lịch, đặc điểm nhận dạng, không biết việc P trộm cắp điện thoại rồi bỏ trốn. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C không có căn cứ xử lý.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị gì thêm về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định: Điện thoại di động OPPO A16, màu xanh là tài sản sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Chí T1; điện thoại di động hiệu OPPO A57, màu đen là tài sản sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Ngọc T. Ngày 18/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định xử lý vật chứng số 305, 306/QĐ-ĐTTH trả cho ông Nguyễn Chí T1 và ông Nguyễn Ngọc T là phù hợp.

[8] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Võ Văn P phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:

    Xử phạt Võ Văn P 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Võ Văn P phải nộp 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/11/2024). Bị cáo có quyền kháng cáo; đối với bị hại vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - PV 06 CA tỉnh BR-VT;
  • - PC 10 CA tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Côn Đảo;
  • - Công an huyện Côn Đảo;
  • - Chi Cục THADS huyện Côn Đảo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Túy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn P trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger