Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày 26/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Dũng

2. Ông Nguyễn Hồng Vân

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2024/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Đức Trung H; Sinh năm 2002; CCCD [...]; Giới tính: Nam; ĐKTT: SN92 T, phường N, TP., tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: SN E T, phường N, TP., tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: LĐTD; Con ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/6/2024 đến ngày 20/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. (Có mặt).

  2. Lê Ngọc H1; Sinh năm 2000; CCCD [...]; Giới tính: Nam; ĐKNKTT và chỗ ở: SN D T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: LĐTD; Con ông Lê Văn T2, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1968; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

    Ngày 23/6/2020 bị TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Chấp hành xong bản án ngày 26/3/2021

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/6/2024, chuyển tạm giam ngày 20/6/2024 Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T. (Có mặt)

  3. Cao Hồng S; Sinh năm 1999; CCCD [...]; Giới tính: Nam; ĐKTT: SN 79 M, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: S T, phường T, TP., tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: LĐTD; Con ông Cao Hồng M (chết) và bà Lê Thị Hồng N, sinh năm 1970; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 26/01/2021 bị Tòa án nhân dân TP. Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2023

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/7/2024 đến ngày 25/7/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 10/6/2024, Nguyễn Đức Trung H sử dụng tài khoản mạng Messenger tên "Hiếu N1” gọi đến tài khoản mạng Messenger tên "Ha Duong” của Lê Ngọc H1 trao đổi về việc mua ma túy về sử dụng. H nói H1 mua 03 viên hồng phiến và ma túy đá về sử dụng tại nhà H1. H1 đồng ý và nói H chuyển số tiền 560.000đ vào tài khoản mang tên Nguyễn Công S1 (là tài khoản H1 đang sử dụng) để H1 mua ma túy. H đã sử dụng tài khoản số 3973973333 mở tại T5 của H chuyển số tiền 560.000đ vào tài khoản số 84561529999 mở tại T6 mang tên Nguyễn Công S1 cho H1.

Sau khi nhận được tiền do H chuyển khoản, H1 sử dụng tài khoản mạng Messenger của H1 liên hệ với Cao Hồng S qua tài khoản mạng Messenger tên "Cao Hong S2" hỏi mua của S 03 viên hồng phiến và 01 túi ma túy đá. S đồng ý bán cho H1 số ma túy trên với số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng); Hai bên thống nhất H1 chuyển tiền vào tài khoản số [...] mở tại ngân hàng V cho S và gặp nhau tại khu vực cầu vượt T (gần nhà nghỉ H4) phường N, thành phố T để giao nhận ma túy.

Sau khi chuyển tiền vào tài khoản của S như thỏa thuận H1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Vision biển kiểm soát: 36B4- 343.82 một mình đi đến điểm hẹn gặp S. Trên đường đi H1 có mua nước và thuốc lá hết 60.000đ để mang về nhà cho mọi người cùng dùng. Khi H1 đến điểm hẹn ở khu vực cầu vượt S đưa cho H1 01 túi nilon bên trong có chứa 03 viên ma túy hồng phiến và các hạt tinh thể ma túy đá màu trắng, H1 mang ma túy về nhà và điện thoại báo cho H đã mua ma túy.

Khoảng 23 giờ cùng ngày, Nguyễn Đức Trung H trên đường đến nhà H1 thì gặp Lê Bá A, sinh năm 2003, (trú tại: SN FM, phường Đ, thành phố T) H rủ Bá A đến nhà H1 sử dụng ma túy, Bá A đồng ý và cả hai cùng đến nhà H1 (số nhà D T, phường N, thành phố T). Đến nơi, H1, H, Bá A cùng lên tầng 2, vào phòng ngủ của H1. Tại đây H1 tự chế bộ dụng cụ để sử dụng ma túy bằng tờ tiền 1.000₫ cuộn tròn gắn vào thân chai nước lọc. Sau đó H1 lấy 1 viên hồng phiến và một ít ma túy đá trong túi nilon vừa mua, đổ lên mảnh giấy bạc rồi dùng bật lửa đốt ma túy và dùng bộ dụng cụ tự chế để sử dụng (hút) ma túy. Sử dụng xong, H1 để xuống đất. Bá A và H cũng lần lượt tự cầm mảnh giấy bạc có ma túy, châm lửa đốt và sử dụng bộ dụng cụ tự chế hút ma túy. (Các bị cáo không đưa ma túy, không đưa dụng cụ cho nhau).

Khi cả 3 hút hết ma túy trên mảnh giấy bạc Hà tiếp tục lấy 1 viên hồng phiến và một ít ma túy đá đồ ra tờ giấy bạc đốt và sử dụng. Khi H1 vừa sử dụng ma túy xong thì Tổ công tác Công an T vào kiểm tra. H1 đã cầm bộ dụng cụ hút ma túy, bật lửa và túi ni lông chứa 01 viên hồng phiến và số ma túy đá còn lại chưa sử dụng ném ra ngoài cửa sổ nhưng bị tổ công tác phát hiện, thu giữ.

Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ đồ vật, vật chứng, đưa H, H1, Bá A về trụ sở làm việc.

Tài sản, đồ vật thu giữ gồm: 01 (một) chai nhựa loại 500ml gắn nhãn THTRUE WATER, trên thân chai nhựa có gắn tờ tiền mệnh giá 1000₫ được cuộn tròn; 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước (3x3)cm bên trong chứa 01 (một) viên nén màu hồng hình tròn cùng với các hạt tinh thể màu trắng; 01 (một) bật lửa ga màu vàng; Đồng thời thu giữ của Nguyễn Đức Trung H 01 mô tô Honda, nhãn hiệu Zoomer-x, BKS: 36B8-872.73; Thu giữ của Lê Bá A 01 xe mô tô Honda Wave Alpha; màu sơn: Vàng trắng; không có BKS.

H, H1 xin đầu thú và tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 15 Phromax gắn sim số 0914692002 (H nộp); và 01 điện thoại di động Iphone 7 gắn sim số 0911191248 (Hà nộp)

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Ngọc H1 tại số nhà D T, phường N, thành phố T, không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài sản gì.

Kết quả tets ma túy trong cơ thể H, H1, Bả A và trưng cầu giám định vật chứng thu giữ được như sau:

Tại phiếu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 11/6/2024 của trạm y tế phường N, kết quả: Lê Ngọc H1, Nguyễn Đức Trung H và Lê Bá A đều dương tính với ma túy loại Methamphetamin.

Tại Kết luận giám định số 2275/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu của Lê Ngọc H1, Nguyễn Đức Trung H và Lê Bá A.

Tại Bản kết luận giám định số 2276/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 01 viên nén hình tròn màu hồng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,113 gam, loại Methamphetamine; Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,025 gam, loại Methamphetamine.

Ngày 19/7/2024 Cao Hồng S đến Cơ quan điều tra Công an T7 đầu thú, khai nhận hành vi bán ma túy cho H1; Đồng thời tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 6sPlus (có gắn sim) và số tiền 500.000₫ đã bán ma túy cho H1. Về nguồn gốc số ma túy bán cho H1, S khai: Ngày 01/6/2024 S đến khu vực cánh đồng thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa S gặp và mua được của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, không rõ nhân thân, lai lịch 10 viên hồng phiến và 01 túi ma túy đá với số tiền 1.000.000đ. S mang về nhà và sử dụng cho bản thân hết 07 viên hồng phiến và một phần ma túy đá. Số còn lại tối ngày 10/6//2024 S bán cho Lê Ngọc H1 lấy số tiền 500.000₫.

Kết quả kiểm tra điện thoại thu giữ của các bị cáo H, H1, S: Tại phần lịch sử cuộc gọi của ứng dụng Messenger thể hiện có các cuộc gọi qua lại giữa các bị cáo vào thời điểm các bị cáo trao đổi, liên hệ để mua ma túy như trong lời khai của các bị cáo.

Kết quả kiểm tra tài khoản ngân hàng của các bị cáo thể hiện: H đã chuyển cho H1 số tiền 560.000đ; H1 đã chuyển cho S số tiền 500.000đ. Các giao dịch chuyển tiền, nhận tiền phù hợp với số tiền và thời điểm chuyển tiền mua ma túy trong lời khai của các bị cáo.

Tại Cơ quan CSĐT, Nguyễn Đức Trung H, Lê Ngọc H1, Cao Hồng S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của H1, H, S trùng khớp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng vụ án:

Hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa gồm: 01 (một) phong bì của Phòng K Công an Tỉnh T phát hành niêm phong số ma túy đã thu giữ còn lại sau giám định; 01 (một) chai nhựa loại 500ml có gắn nhãn THTRUE WATER, trên thân chai nhựa có gắn tờ tiền mệnh giá 1.000đ được cuộn tròn; 01 bật lửa màu vàng, đã qua sử dụng; 03 điện thoại di động (thu giữ của H, H1, S); 500.000₫ tiền ngân hàng N2.

Đối với xe mô tô Honda, nhãn hiệu Zoomer-x, BKS: 36B8-872.73 tạm giữ của Nguyễn Đức Trung H, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị T1; Xe mô tô cho H5; màu sơn: Vàng trắng, tạm giữ của Lê Bá A, chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Hữu M1. Bà T1, anh M1 cho các bị cáo mượn xe để sử dụng và không biết việc các bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp; Bà T1, anh M1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.

Đối với xe máy nhãn hiệu Vision biển kiểm soát: 36B4- 343.82 H1 sử dụng đi mua ma túy là xe của chị Lê Thị Thúy H2 (chị gái H1) cho H1 mượn để sử dụng. Chị H2 không biết việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra không thu giữ.

Đối với người phụ nữ S khai đã bán ma túy cho S, do S không biết tên tuổi, địa chỉ của người này, việc mua bán không có ai chứng kiến; địa điểm mua bán không có camera an ninh. Vì vậy, không có cơ sở để xác minh làm rõ.

Quá trình điều tra S khai báo, sau khi mua được ma túy S mang về nhà và đã sử dụng 07 viên hồng phiến. Tuy nhiên xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Cao Hồng S ngày 19/7/2024 cho kết quả âm tính nên không đủ căn cứ để xử phạt hành chính với S về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Lê Bá A là người cùng sử dụng ma túy với H1 và H, quá trình điều tra xác định Bá A chỉ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không rủ rê, không chuẩn bị công cụ, phương tiện để sử dụng ma túy, không đưa ma túy, dụng cụ cho các bị cáo H, H1 sử dụng. Do đó Cơ quan CSĐT Công an thành phố chuyển công an T xử lý phạt hành chính đối với Bá A về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 23 Nghị định 144/2021/ND-CP ngày 31/12/2021.

Đối với tài khoản ngân hàng số 84561529999 mở tại T8 mà Lê Ngọc H1 sử dụng để chuyển tiền mua ma túy cho S. Qua điều tra xác định là của anh Nguyễn Công S1, sinh năm 2000 (trú tại phường Đ, thành phố T). Anh S1 khẳng định, sau khi mở tài khoản này anh S1 sử dụng một thời gian thì cho Lê Ngọc H1 (bạn của anh S1) mượn. Việc H1 sử dụng tài khoản như thế nào anh S1 không biết, do đó Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh S1.

Đối với 0,138g Methamphetamine thu giữ tại hiện trường, quá trình điều tra xác định: mục đích của H, H1, Bá A là sử dụng hết số ma túy này, không có ý định cất giữ, song khi đang sử dụng thì bị Công an kiểm tra nên H1 đã ném số ma túy chưa sử dụng này qua cửa sổ nhằm tẩu tán. Do đó không có căn cứ xử lý H, H1, Bá A về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về căn nhà số D T, phường N, thành phố T là nhà của bố mẹ H1 (ông T2, bà T3) ông bà không biết việc H1 tổ chức sử dụng ma túy tại nhà do đó không xử lý.

Tại Cáo trạng số 308/CTr-VKSTPTH ngày 21/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Ngọc H1, Nguyễn Đức Trung H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Truy tố Cao Hồng S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo H, H1); Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo S); Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức Trung H, Lê Ngọc H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo Cao Hồng S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Xử phạt Nguyễn Đức Trung H, Lê Ngọc H1 mỗi bị cáo từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù; Xử phạt Cao Hồng S từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù; Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày tạm giữ; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) phong bì của Phòng K Công an Tỉnh T niêm phong số ma túy đã thu giữ còn lại sau giám định; 01 (một) chai nhựa loại 500ml có gắn nhãn THTRUE WATER; 01 bật lửa ga màu vàng đã qua sử dụng; Tịch thu nộp NSNN gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ; 03 điện thoại di động (thu giữ của H, H1, S); 500.000đ tiền ngân hàng N2; Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Các bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Căn cứ hành vi của các bị cáo và kết quả giám định có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 10/6/2024, tại khu vực gần nhà nghỉ H4 (thuộc phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) Cao Hồng S đã có hành vi bán cho Lê Ngọc H1 0,138g ma túy, loại Methamphetamin nhằm mục đích kiếm lời. Khoảng 23 giờ, tại số nhà D T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Lê Ngọc H1, Nguyễn Đức Trung H đã có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho H1, H và Lê Bá A.

    Hành vi của các bị cáo Nguyễn Đức Trung H, Lê Ngọc H1 đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Hành vi của bị cáo Cao Hồng S đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân TP. Thanh Hóa truy tố các bị cáo H, H1 theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo S theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  2. [2] Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo H1, H và hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo S đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lí của Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi, sử dụng chất ma túy; Làm suy giảm sức khỏe con người; Xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hành vi phạm tội khác. Do đó cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
  3. [3] Xét vai trò đồng phạm đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy": Vụ án có đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, trực tiếp thực hiện tội phạm. Tuy nhiên bị cáo H là người khởi xướng, rủ rê, là người đưa tiền cho H1 mua ma túy để cùng sử dụng. Vì vậy H giữ vai trò đầu, chịu trách nhiệm cao hơn H1. H1 là người đi mua ma túy, chuẩn bị công cụ, địa điểm sử dụng ma túy, H1 giữ vai trò thứ hai, chịu trách nhiệm sau H.
  4. [4] Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo”, “Đầu thú” quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51- Bộ luật hình sự; Bị cáo S đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý, vì vậy phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Bị cáo H1 có nhân thân xấu. Vì vậy HĐXX xem xét để có mức hình phạt phù hợp với tính chất mức độ của hành vi, vai trò, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của từng bị cáo nhằm đảm bảo tính răn đe và sự khoan hồng của pháp luật. Đồng thời cách li các bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng xã hội một thời gian đề giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và đề phòng ngừa tội phạm chung.

    Do các bị cáo không có nghề nghiệp, không có công việc thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo

  5. [5] Đối với Lê Bá A là người đã sử dụng ma túy cùng với H và H1, song Bá A1 không có đóng góp, bàn bạc gì; Quá trình sử dụng ma túy Bá A1 không tham gia chuẩn bị công cụ, phương tiện để sử dụng ma túy, vì vậy Bá A1 không có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã chuyển công an T xử phạt hành chính đối với Bá A1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 23 Nghị định 144/2021/ND-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định.
  6. [6] Đối với người phụ nữ S khai đã bán ma túy cho S, do S không biết tên tuổi, địa chỉ của người này, việc mua bán không có ai chứng kiến, địa điểm mua bán không có camera an ninh. Vì vậy Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ; Đối với xe mô tô Honda BKS: 36B8-872.73 chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị T1; Xe mô tô cho H5, màu sơn: Vàng trắng chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Hữu M1. Bà T1, anh M1 cho bị cáo H, H1 mượn xe để sử dụng và không biết các bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp; Đối với xe máy nhãn hiệu Vision biển kiểm soát: 36B4- 343.82 H1 sử dụng đi mua ma túy là xe của chị Lê Thị Thúy H2 cho H1 mượn. Chị H2 không biết việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội do đó Cơ quan điều tra không thu giữ; Đối với việc S khai sau khi mua được ma túy S đã sử dụng 07 viên hồng phiến. Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Cao Hồng S song kết quả âm tính nên không xử phạt hành chính với S về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Đối với tài khoản ngân hàng số 84561529999 mở tại T8 mà Lê Ngọc H1 sử dụng để chuyển tiền mua ma túy là tài khoản của anh Nguyễn Công S1, anh S1 cho Hà mượn và không biết H1 sử dụng tài khoản để chuyển tiền mua ma túy, do đó Cơ quan điều tra không xử lý với anh S1; Đối với 0,138g Methamphetamine thu giữ tại hiện trường mục đích của H, H1, Bá A1 là sử dụng hết, không có ý định cất giữ số ma túy này, song khi đang sử dụng thì bị Công an kiểm tra nên H1 đã ném số ma túy chưa sử dụng này qua cửa sổ nhằm tẩu tán. Do đó Cơ quan điều tra không xử lý H, H1, Bá A1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; Về căn nhà số D T, phường N, thành phố T là nhà của bố mẹ H1 (ông T2, bà T3) ông bà không biết H1 tổ chức sử dụng ma túy tại nhà, do đó có quan điều tra không xử lý. Các quyết định trên của cơ quan điều tra là đúng pháp luật.
  7. [7] Vật chứng vụ án: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ; 03 điện thoại di động (thu giữ của H, H1, S1); 500.000đ tiền ngân hàng N2, là công cụ phạm tội và tiền do phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước; 01 (một) phong bì niêm phong số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ lưu hành; 01 (một) chai nhựa loại 500ml có gắn nhãn THTRUE WATER; 01 bật lửa ga màu vàng đã qua sử dụng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 106 - BLTTHS.
  8. [8] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.
  9. [9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016;

    Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự (Đối với các bị cáo Nguyễn Đức Trung H, Lê Ngọc H1)
  • Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo Cao Hồng S)
  • - Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đức Trung H, Lê Ngọc H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Tuyên bố: Bị cáo Cao Hồng S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Trung H 07 (bảy) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/6/2024
  • Xử phạt bị cáo Lê Ngọc H1 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/6/2024
  • Xử phạt bị cáo Cao Hồng S 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/7/2024
  • - Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, số Imel: 355832081216787, điện thoại gắn kèm sim, thu giữ của Lê Ngọc H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu ghi, điện thoại gắn kèm sim, thu giữa của Cao Hồng S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, số Imel 355319543526896, điện thoại gắn kèm sim, thu giữa của Nguyễn Đức Trung H; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ; Số tiền 500.000₫ thu giữ của bị cáo S.
  • Tịch thu tiêu hủy gồm: Một phong bì ma túy niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh T, có hình dấu của Phòng K, kèm chữ ký, chữ viết của Lê Minh T4, Trần Thị Thúy H3, Lê Thị Thanh L; 01 chai nhựa, loại dung tích 500ml; 01 bật lửa ga
  • Toàn bộ vật chứng (nêu trên) hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự TP., tỉnh Thanh Hóa theo “Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản” số 12/2025/THA ngày 07/11/2024 giữa Công an T và Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa.
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 - BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Đức Trung H, Lê Ngọc H1, Cao Hồng S mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
  • - Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Thanh Hóa;
  • - Công an thành phố thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS thành phố Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Trung H và đồng phạm (Tổ chức SDTPCMT)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger