Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/KDTM-ST

Ngày: 30/9/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng thuê văn phòng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền Trân

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận

Ông Nguyễn Duy Thảo

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 06/2023/TLST-KDTM ngày 13 tháng 3 năm 2023 về việc "Tranh chấp hợp đồng thuê văn phòng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 06/2024/QĐST- KDTM ngày 05 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Đ. Trụ sở: Số I đường B, quận H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ làm việc: Tầng A Tòa nhà T, số B - 257 đường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị C – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn P; Địa chỉ: Tầng A Tòa nhà T, số B - 257 đường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Ông P có mặt).

- Bị đơn: Công ty Cổ phần T. Trụ sở: Tầng H Tòa nhà S, số G phố D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: ông Quản Văn D - Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị. (Ông D có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Ngô Bá D1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn H, xã D, huyện T, thành phố Hà Nội.(Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 18/05/2022, Công ty Cổ Phần Đ và Công ty Cổ phần T1 kí Hợp đồng thuê văn phòng số 01082022/HĐ-DMC-KD thuê diện tích 1.156,67m² tại tầng F, Tòa nhà V, số B H, Phường V, Quận T, Tp . của Công ty Cổ Phần Đ với thời hạn thuê là 05 năm (60 tháng) Công ty Cổ phần T1 đã đặt cọc số tiền là: 758.493.293đ; Công ty Cổ phần T1 đã vi phạm Điều II – Nghĩa vụ của Bên thuê thanh toán tiền thuê và các chi phí khác tại Hợp đồng số 01082022/HĐ-DMC-KD. Mặc dù, Công ty Cổ phần Đ đã nhiều lần nhắc nhở, gửi đề nghị thanh toán nhưng Công ty Cổ phần T1 vẫn tiếp tục vi phạm và không thanh toán đúng hạn theo quy định tại Phần III Phụ lục 1 Hợp đồng số 01082022/HĐ-DMC-KD. Kể từ ngày Công ty Cổ phần Đ gửi đề nghị thanh toán theo Công văn số Cv số 87-22CV/DMC vào ngày 05/08/2022 thời gian vi phạm đến nay là hơn 03 tháng. Công ty Đ rút yêu cầu: về việc thanh toán toàn bộ tiền thuê 57 tháng thuê còn lại của Hợp đồng thuê: 17.050.074.555đ.

Tại phiên toà, Công ty Đ rút yêu cầu bồi thường thiệt hại: 446.734.000đ và phí vận chuyển: 278.234.000đ đối với Công ty T1. Công ty Đ đề nghị được quyền chấm dứt Hợp đồng cho thuê văn phòng số 01082022/HĐ-DMC-KD, ngày 18/05/2022 trước thời hạn theo quy định tại Khoản 4 Điều X của Hợp Đồng. Thời gian đề nghị chấm dứt: 01/3/2023. Công ty Đ yêu cầu Toà án giải quyết: Công ty Đ sẽ không hoàn lại tiền cọc: 758.493.293đ, buộc Công ty T1 trả cho Công ty Đ số tiền thuê nợ tồn đọng và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024: 1.606.001.103đ.

* Về phía bị đơn Công ty cổ phần T: Ông D được cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H thông báo về việc Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đang thụ lý vụ án kinh doanh thương mại số 06 ngày 13/03/2023 về việc tranh chấp hợp đồng thuê văn phòng giữa nguyên đơn là công ty CP Đ và công ty CP T. Hiện nay, ông D đang bị cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H khởi tố, tạm giam về hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản nên khi Tòa án nhân dân quận Thanh Khê tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như khi mở phiên tòa để xét xử thì ông D không tham gia được và đề nghị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật. Từ khoảng tháng 8/2022, Công ty cổ phần T đã dừng hoạt động,không chuyển trụ sở đi đâu. Hiện nay công ty không còn bất cứ hoạt động gì. Đối với yêu cầu khởi kiện của công ty CP Đ, ông D thấy việc Công ty Cổ phần T vi phạm nghĩa vụ tài chính trong việc thuê văn phòng của công ty CP Đ tiến hành khởi kiện là đúng quy định của pháp luật, ông D đồng ý và không có ý kiến gì. Hiện Công ty cổ phần T đã dừng hoạt động nên không có khả năng chi trả số tiền thuê nhà của công ty Đ nên đề nghị Toà án xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với tài sản của công ty đã đầu tư tại tòa nhà V, số B đường H, phường V, quận T, TP Đà Nẵng được định giá là 1.545.566.062đ, ông D không có ý kiến gì về kết quả định giá. Đề Nghị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xét xử tuyên trao trả số tài sản trên cho Công ty CP Đ hoặc tiến hành bán thanh lý để trả tiền cho công ty Đ theo quy định của pháp luật.

*Theo đơn trình bày Nguyễn Thị N người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà N nhân được các thông báo của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê về việc đưa vụ án tranh chấp hợp đồng thuê văn phòng giữa công ty cổ phần Đ và B. Bà N là cổ đông sáng lập của công ty. Hiện nay, bà N đang bị cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H khởi tố, tạm giam về hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản nên khi Tòa án nhân dân quận Thanh Khê tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như khi mở phiên tòa để xét xử thì bà N không tham gia được và đề nghị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật. Bà N đồng ý với quan điểm của ông Quản Văn D về việc bàn giao tài sản của công ty tại Tầng F, Tòa nhà V, số B đường H, Phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng cho công ty CP Đ và không có ý kiến gì khác.

* Theo đơn trình bày ông Ngô Bá D1 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông D1 trên danh nghĩa đứng tên cổ đông của doanh nghiệp nhưng là được dựng lên và ông hoàn toàn không góp tiền vào vốn cổ đông để thành lập doanh nghiệp, cũng như không ký kết một giấy tờ gì. Ông D1 cho rằng ông không có quyền và nghĩa vụ liên quan. Hiện nay do tình trạng sức khỏe không tốt nên ông D1 không thể trực tiếp tham gia vụ án được. Ông D1 làm đơn đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc của Tòa án và xin được vắng mặt trong tất cả các phiên xét xử của Tòa án. Đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 352, Điều 357, Điều 418, khoản 4 Điều 422, Điều 472, Điều 481 Bộ luật dân sự, Điều 306 Luật thương mại 2005 điểm a khoản 6 Điều IV, khoản 3 Điều VIII, phần II phụ lục hợp đồng, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Công ty Cổ phần T phải trả cho Công ty Đ tổng số tiền 1.606.001.103đ trong đó tiền nợ 1.405.936.608đ và lãi 200.064.495đ (tạm tính đến ngày 30/9/2024). Công ty Cổ phần Đ có nghĩa vụ bàn giao toàn bộ tài sản theo chứng thư thẩm định giá ngày 19/7/2023 cho Công ty cổ phần T.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn về việc rút thanh toán toàn bộ tiền thuê 57 tháng thuê còn lại của Hợp đồng số tiền: 17.050.074.555đ, tiền bồi thường thiệt theo Mục (iii) Khoản 4 Điều IX của Hợp đồng số tiền : 446.734.000đ và phí vận chuyển số tiền: 278.234.000đ với bị đơn.

Công ty Cổ phần T phải chịu án phí, chi phí tố tụng dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

*Về thủ tục tố tụng:

[1] Nguyên đơn là Công ty Cổ phần Đ (sau đây gọi là Công ty Đ) khởi kiện tranh chấp hợp đồng thuê văn phòng với bị đơn Công ty Cổ phần T (sau đây gọi là Công ty T). Xét đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Nguyên đơn lựa chọn Toà án nơi thực hiện hợp đồng là tầng 06, Tòa nhà V, số B H, Phường V thuộc quận T để giải quyết tranh chấp theo quy định tại Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

[2] Ông D, bà N và ông D1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan .

[3] Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện:

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty Đ rút yêu cầu về việc thanh toán toàn bộ tiền thuê 57 tháng thuê còn lại của Hợp đồng thuê số tiền: 17.050.074.555đ.

Tại phiên toà, nguyên đơn Công ty Đ rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với việc yêu cầu Công ty T phải thanh toán tiền bồi thường thiệt theo Mục (iii), Khoản 4, Điều IX của Hợp đồng số tiền: 446.734.000đ; phí vận chuyển số tiền: 278.234.000đ đối với bị đơn.

Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện phù hợp với quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận.

[4] Về yêu cầu của nguyên đơn: Công ty Đ yêu cầu Công ty T thanh toán tiền thuê văn phòng và tiền điện, phí dịch vụ phát sinh theo hợp đồng và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024: 1.606.001.103 (Một tỷ, sáu trăm lẻ sáu triệu, không trăm lẻ một ngàn, một trăm lẻ ba đồng).

[4.1] Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ theo Hợp đồng thuê văn phòng số 01082022/HD-DMC-KD được ký vào ngày 18 tháng 05 năm 2022 giữa Công ty Cổ Phần Đ và Công ty Cổ phần T1 (“Hợp Đồng”), trong đó: Công ty Cổ phần T1 thuê diện tích 1.156,67m2 tại tầng 06, Tòa nhà V, số B H, Phường V, Quận T, Tp . của Công ty Cổ Phần Đ với thời hạn thuê là 05 năm (60 tháng) từ ngày 01/08/2022 đến ngày 31/07/2027, mục đích: làm văn phòng. Công ty Cổ phần T1 đã đặt cọc số tiền là: 758.493.293đ; đã nhận bàn giao mặt bằng ngày 18/5/2022 và đi vào hoạt động. Việc ký kết hợp đồng trên giữa các bên được lập thành văn bản, do người có thẩm quyền của hai Công ty đại diện ký kết, sự thỏa thuận giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, tuân thủ các quy định của pháp luật khi giao kết hợp đồng nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên là phù hợp với pháp luật nên có giá trị pháp lý theo quy định tại Điều 24, Điều 42 Luật thương mại.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Cổ phần Tập đoàn T1 đã vi phạm Điều II – nghĩa vụ của bên thuê thanh toán tiền thuê và các chi phí khác tại Hợp đồng số 01082022/HĐ-DMC-KD. Mặc dù, Công ty Đ đã nhiều lần nhắc nhở, gửi đề nghị thanh toán nhưng Công ty T1 vẫn tiếp tục vi phạm và không thanh toán đúng hạn theo quy định tại Phần III Phụ lục 1 Hợp đồng số 01082022/HD-DMC-KD đính kèm các công văn số 87- 22CV/DMC, Cv số 100-22CV/DMC, Cv số 109-22CV/DMC. Tại các biên bản lấy lời khai của cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an T, đại diện theo pháp luật của bị đơn thừa nhận việc Công ty T vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê văn phòng với Công ty Đ, vì các bên đều thừa nhận nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4.2] Từ ngày 05/8/2022 đến ngày 29/12/2022, Công ty Đ đã gửi các văn bản số 21- 22 CV-DMC, Cv số 116-22CV-DMC, Cv số 185-22CV-DMC yêu cầu thanh toán và yêu cầu chấm dứt hợp đồng cho thuê văn phòng cho Công ty T1. Tại phiên toà, nguyên đơn Công ty Đ yêu cầu chấm dứt Hợp đồng thuê văn phòng số 01082022/HĐ-DMC-KD (hợp đồng) ngày 18/05/2022 trước thời hạn và thời gian đề nghị chấm dứt là ngày 01/3/2023 với bị đơn Công ty T1. Xét thấy, Công ty T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ tháng 8/2022 nên Công ty Đ đã gửi các văn bản yêu cầu chấm dứt Hợp đồng thuê văn phòng trước thời hạn và nguyên đơn đề nghị chấm dứt là 01/3/2023 là phù hợp với nội dung thoả thuận trong hợp đồng được quy định tại Khoản 4 Điều X của Hợp đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận hợp đồng thuê văn phòng chấm dứt từ ngày 01/3/2023, buộc Công ty T1 bàn giao mặt bằng tại Tầng F, Tòa nhà V, số B đường H, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng cho Công ty Đ.

[4.3] Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán tiền thuê văn phòng và phí dịch vụ từ ngày 28/5/2022 đến 31/10/2022 mặc dù hợp đồng thuê chấm dứt từ ngày 01/3/2023 và nguyên đơn không yêu cầu tiền thuê văn phòng cũng như chi phí phát sinh sau ngày 31/10/2022 theo hợp đồng mà các bên đã kí kết. Xét thấy sự tự nguyện của nguyên đơn và đảm bảo quyền lợi cho bị đơn do đó có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty Đ buộc bị đơn Công ty T phải thanh toán số tiền thuê và phí thuê dịch vụ từ ngày 28/5/2022 đến ngày 31/10/2022: 1.405.936.608đ trong đó: tiền thuê và phí dịch vụ từ 28/5/2022 đến ngày 31/10/2022: 1.365.669.370đ, phí dịch vụ từ 28/5/2022 đến 31/7/2022: 196.429.432đ, tiền thuê và phí dịch vụ từ 1/8/2022 đến 31/10/2022: 1.137.739.938đ, phí dịch vụ phát sinh theo hợp đồng từ 1/8/2022 đến 31/10/2022, tiền điện sử dụng từ 26/7/2022 đến 22/8/2022: 40.267.238đ là có cơ sở theo quy định Điều 481 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.4] Về yêu cầu lãi suất chậm trả: Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lãi suất chậm trả theo mức lãi suất 7.5%/năm cho số tiền chậm thanh toán. Xét thấy, mức lãi suất chậm trả mà nguyên đơn yêu cầu các bên đã thoả thuận tại Điều VIII Hợp đồng và thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Đối với số tiền 758.493.293đ mà Công ty T1 đã đặt cọc cho Công ty Đ. Hội đồng xét xử thấy: Theo Hợp đồng thuê văn phòng số 01082022/HĐ-DMC-KD thì quy định tại khoản 3 Điều IX Hợp đồng đã ký kết : “Trong trường hợp Hợp đồng này bị chấm dứt do bất kỳ lỗi, không thực hiện hoặc vi phạm nào của bên thuê đối với các nghĩa vụ của mình theo Hợp Đồng này, thì bên thuê ngay lập tức sẽ bị mất tiền đặt cọc đó và tiền đặt cọc đó sẽ được bên cho thuê giữ lại toàn quyền sử dụng”. Do đó, Công ty Đ được giữ lại toàn bộ số tiền cọc trên là phù hợp với khoản 2 Điều 328 Bộ luật dân sự.

[6] Đối với tài sản mà Công ty T đã đầu tư tại Tầng F, Tòa nhà V, số B đường H, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng được định giá 1.545.566.062đ (Một tỷ năm trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm sáu mươi hai đồng) thì Công ty T không có ý kiến gì và đề nghị Công ty Đ tiến hành bán thanh lý để trả tiền cho Công ty Đ nhưng yêu cầu này không được phía nguyên đơn chấp nhận nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hiện tài sản đang được Công ty Đ quản lý. Xét đây là tài sản của bị đơn nên cần buộc nguyên đơn giao trả cho bị đơn là phù hợp. (kèm theo phụ lục).

[7] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 5.000.000đ và Chi phí thẩm định giá: 20.000.000đ Công ty T phải chịu nhưng Công ty Đ đã nộp tạm ứng và đã chi nên Công ty T có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Công ty Đ số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).

[8] Về án phí: Căn cứ vào điều 147 BLTTDS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Công ty cổ phần T phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, số tiền cụ thể phải chịu: 12.000.000đ + (2% x 1.206.001.103đ) = 36.120.022đ.

Hoàn trả cho Công ty Cổ phần Đ số tiền đã nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 92, Điều 147, Điều 244, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 328, Điều 352, Điều 357, Điều 418, khoản 4 Điều 422, Điều 472, Điều 481 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 24, Điều 42, Điều 50, Điều 55, Điều 306 Luật thương mại;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng thuê văn phòng của nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ đối với bị đơn Công ty cổ phần T.

1. Tuyên bố Hợp đồng thuê văn phòng số 01082022/HĐ-DMC-KD ngày 18/05/2022 giữa Công ty Cổ phần Đ và Công ty cổ phần T chấm dứt kể từ ngày 01/3/2023. Buộc Công ty T1 bàn giao mặt bằng tại Tầng F, Tòa nhà V, số B đường H, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng cho Công ty Đ.

2. Buộc Công ty cổ phần T có nghĩa vụ trả cho Công ty Cổ phần Đ tổng số tiền là 1.606.001.103đ (Một tỷ sáu trăm lẻ sáu triệu không trăm linh một nghìn một trăm lẻ ba đồng) trong đó tiền nợ: 1.405.936.608đ (Một tỷ bốn trăm lẻ năm triệu chín trăm ba mươi sáu nghìn sáu trăm lẻ tám đồng) và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 200.064.495đ (Hai trăm sáu mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi lăm đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Buộc Công ty Cổ phần Đ giao trả toàn bộ tài sản cho Công ty cổ phần T (kèm theo phụ lục).

4. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn về việc rút thanh toán toàn bộ tiền thuê 57 tháng thuê còn lại của Hợp đồng số tiền: 17.050.074.555đ, tiền bồi thường thiệt theo Mục (iii) Khoản 4 Điều IX của Hợp đồng số tiền : 446.734.000đ và phí vận chuyển số tiền: 278.234.000đ với bị đơn.

5.Về chi phí tố tụng: Buộc Công ty cổ phần T có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Công ty cổ phần Đ số tiền 25.000.000đ trong đó chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 5.000.000đ và chi phí thẩm định giá: 20.000.000đ.

6. Về án phí sơ thẩm:

- Công ty cổ phần T phải chịu 36.120.022đ (Ba mươi sáu triệu một trăm hai mươi nghìn không trăm hai mươi hai đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

- Hoàn trả cho Công ty Cổ phần Đ số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 30.405.840đ (Ba mươi triệu bốn trăm linh năm nghìn tám trăm bốn mươi đồng) theo biên lai thu số 0008833 ngày 13/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

7. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - Chi cục THADS Q. Thanh Khê;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Bảo Huyền Trân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng thuê văn phòng

  • Số bản án: 22/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê văn phòng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê văn phòng của nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ đối với bị đơn Công ty cổ phần tập đoàn B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger