|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2024/KDTM-ST Ngày: 16 - 9 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Hồng Diễm Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Kim Lý;
- Ông Lục Kim Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hương Giang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 31/2024/TLST-KDTM ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-KDTM ngày 9 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2024/QĐHPT-KDTM ngày 30/8/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1; địa chỉ trụ sở: Tầng A, tầng 10 và tầng 11, Tòa nhà Hanoi Tungshing S, số B N, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy T – chuyên viên tín dụng Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 – Chi nhánh B; địa chỉ: Số C, tỉnh lộ 15, ấp I, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Giấy ủy quyền ngày 8/5/2024), có mặt.
2. Bị đơn: Công ty TNHH S1; địa chỉ trụ sở: Thửa đất số 342, tờ bản đồ số 30, đường Đ, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mậu D – Chức danh: Giám đốc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại Đơn khởi kiện đề ngày 29/01/2024 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:.
Công ty TNHH S1 có vay vốn tại Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 theo hợp đồng tín dụng sau:
Hợp đồng tín dụng số BDG/000352/21 ngày 16/12/2021: vay số tiền 890.000.000 đồng, mục đích vay: Mua xe ô tô Vinfast LUX SA 2.0. Hạn mức này được hoàn trả vào ngày 10 hàng tháng một khoản tiền trả gốc bằng nhau là 14.900.000 đồng trong vòng 60 tháng (có điều chỉnh ở lần trả cuối cùng nếu cần thiết), bắt đầu sau một tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Tổng thời hạn vay là 60 tháng.
Lãi suất cho vay theo hợp đồng tín dụng : lãi suất năm thứ nhất là 7,5%/năm. Từ năm thứ 2 trở đi là 3,0%/năm + lãi suất huy động tiền gửi VNĐ có kỳ hạn 18 tháng đối với khách hàng cá nhân theo phương thức trả lãi một lần vào cuối kỳ. Khoản vay được giải ngân ngày 21/12/2021 theo Khế ước số 060-2-55-00-21810 với số tiền 890.000.000 đồng.
Việc vay vốn được Công ty TNHH S1 bảo đảm bằng tài sản sau:
Xe ô tô nhãn hiệu VINFAST LUX SA 2.0 (MÁY XĂNG, SỐ TỰ ĐỘNG), màu trắng – WH11, 7 chỗ, lắp ráp tại Việt Nam, biển kiểm soát 61K-001.63 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61024429 do Công an tỉnh B cấp ngày 16/12/2021 cho Công ty TNHH S1 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số HDTC-BDG/000352/21 ngày 20/12/2021, được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 21/12/2021 tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Đà Nẵng.
Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng trên, Công ty TNHH S1 đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trả nợ tại điều khoản trả nợ trong hợp đồng tín dụng dẫn đến khoản vay bị quá hạn từ ngày 09/12/2023. Do đó, Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:
- Buộc Công ty TNHH S1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số: BDG/000352/21 ký ngày 16/12/2021, tính đến ngày 16/9/2024 là 677.245.183 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc: 606.900.000 đồng; Tiền lãi quá hạn: 62.747.221 đồng; Tiền phạt gốc quá hạn: 4.560.237 đồng; Tiền phạt lãi quá hạn: 3.037.725 đồng.
- Trường hợp Công ty TNHH S1 không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký thì Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Nguyên đơn giao nộp các tài liệu, chứng cứ sau: Hồ sơ pháp lý của Ngân hàng; Giấy đề nghị vay vốn; Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp; các hợp đồng tín dụng; khế ước nhận nợ; hợp đồng thế chấp; Văn bản chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm; Giấy chứng nhận giấy chứng nhận đăng ký xe; sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân; Lịch trả nợ báo cáo nợ quá hạn biên bản làm việc; bảng tạm tính nợ quá hạn.
2. Bị đơn Công ty TNHH S1:
Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để bị đơn Công ty TNHH S1 tham gia giải quyết vụ án nhưng Công ty TNHH S1 vắng mặt không có lý do. Đồng thời, Tòa án đã yêu cầu Công ty TNHH S1 có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bà P không có ý kiến cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ về quá trình ký kết hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản, cũng như việc trả tiền gốc cho nguyên đơn. Do đó, Tòa án không thu thập được ý kiến của bị đơn Công ty TNHH S1.
Quá trình xác minh, bị đơn Công ty TNHH S1 có trụ sở tại Thửa đất số 342, tờ bản đồ số 30, đường Đ, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
3. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Duy T giao nộp cho Tòa án Bảng tính gốc lãi tính đến ngày 16/9/2024 đối với khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số BDG/000352/21 ngày 16/12/2021. Đồng thời thay đổi yêu cầu khởi kiện về tiền nợ gốc, tiền lãi tính đến ngày 16/9/2024 là 677.245.183 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc: 606.900.000 đồng; Tiền lãi quá hạn: 62.747.221 đồng; Tiền phạt gốc quá hạn: 4.560.237 đồng; Tiền phạt lãi quá hạn: 3.037.725 đồng.
Trường hợp Công ty TNHH S1 không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký thì Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng không đến tham gia phiên tòa. Do đó, căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa xét xử vắng mặt bị đơn Công ty TNHH S1.
4. Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành đúng và đầy đủ các quy định về thủ tục tố tụng được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại chương XIV của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng: Đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét thấy, Hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật và đã phát sinh hiệu lực, buộc các bên phải chịu trách nhiệm đối với những điều khoản đã thỏa thuận và cam kết trong hợp đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn trả cho nguyên đơn tổng số tiền 677.245.183 đồng tính đến ngày 16/9/2024 là có căn cứ chấp nhận. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là có căn cứ chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở ý kiến trình bày của đại diện nguyên đơn, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, sau khi Hội đồng xét xử nghị án, nhận thấy:
[1] Về tố tụng :
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết : Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là “tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn Công ty TNHH S1 có trụ sở tại thành phố B, tỉnh Bình Dương là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện:
Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi các yêu cầu:
- Buộc Công ty TNHH S1 có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 16/9/2024 là: 677.245.183 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc: 606.900.000 đồng; Tiền lãi quá hạn: 62.747.221 đồng; Tiền phạt gốc quá hạn: 4.560.237 đồng; Tiền phạt lãi quá hạn: 3.037.725 đồng.
- Trường hợp Công ty TNHH S1 không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký thì Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Xét thấy, việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, thuộc phạm vi được uỷ quyền và không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phù hợp Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên có cơ sở chấp nhận.
[1.3] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thông báo cho người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S1 đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S1 không đến, không giao nộp chứng cứ cho tòa án. Sau khi mở phiên họp, Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S1 biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định nhưng người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S1 cũng không có ý kiến phản bác lời trình bày của đại diện hợp pháp của nguyên đơn và các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ do đại diện hợp pháp của nguyên đơn giao nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, căn cứ khoản 1, 5 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định tất cả các giấy tờ, tài liệu và lời trình bày của đại diện hợp pháp của nguyên đơn liên quan đến yêu cầu khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng và thế chấp tài sản là chứng cứ của vụ án.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:
[2.1] Xét Hợp đồng hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 và Công ty TNHH S1, thấy rằng: Về hình thức và nội dung của hợp đồng không trái pháp luật, phù hợp Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 23, khoản 1 Điều 30 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên phát sinh hiệu lực.
Xét thấy hợp đồng tín dụng BDG/000352/21 ngày 16/12/2021 là loại hợp đồng vay có kỳ hạn, có lãi suất, có thế chấp tài sản bảo đảm. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH S1 không thanh toán nợ gốc, lãi đúng thời hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay được quy định trong hợp đồng tín dụng nêu trên và Điều 466 Bộ luật Dân sự. Do đó, Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH S1 trả nợ là phù hợp Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 nên có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu về số tiền nợ gốc, thấy rằng: Tổng số tiền nợ gốc Công ty TNHH S1 vay của ngân hàng là 890.000.000. Quá trình thực hiện hợp đồng vay, ngân hàng cho biết Công ty TNHH S1 đã trả được số tiền nợ gốc tính đến ngày 16/9/2024 là 283.100.000 đồng, Công ty TNHH S1 không có ý kiến phản đối, tranh chấp đối với số tiền nợ gốc đã trả cho ngân hàng. Do đó, có cơ sở chấp nhận lời trình bày của ngân hàng, buộc Công ty TNHH S1 trả lại số tiền nợ gốc còn lại của khoản vay trên là 606.900.000 đồng.
[2.3] Xét mức lãi suất, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn trong hợp đồng tín dụng nêu trên, thấy rằng: Theo quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng và Điều 13, 14 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N thì các tổ chức tín dụng được quyền thỏa thuận mức lãi suất cho vay, lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và các loại phí liên quan đến hợp đồng tín dụng với bên vay. Do đó, việc thỏa thuận mức lãi suất cho vay, điều chỉnh lãi suất cho vay theo hợp đồng tín dụng: lãi suất năm thứ nhất là 7,5%/năm. Từ năm thứ 2 trở đi là 3,0%/năm + lãi suất huy động tiền gửi VNĐ có kỳ hạn 18 tháng đối với khách hàng cá nhân theo phương thức trả lãi một lần vào cuối kỳ ghi trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ là không trái quy định pháp luật. Xét việc tính lãi của ngân hàng tính đến ngày 16/9/2024 đúng thỏa thuận hai bên đã ký kết, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu về tiền lãi của ngân hàng, buộc Công ty TNHH S1 phải trả tiền phạt gốc quá hạn: 4.560.237 đồng; tiền lãi quá hạn: 62.747.221 đồng; tiền phạt lãi quá hạn: 3.037.725 đồng.
[2.4] Xét yêu cầu phát mãi tài sản, thấy rằng: Khi vay tiền, Công ty TNHH S1 thế chấp cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 01 chiếc xe ôtô như đã trình bày tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án. Tài sản trên được các bên ký kết hợp đồng thế chấp tài sản và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định tại Nghị định 102/2017/NĐ-CP, ngày 01/9/2017 của Chính phủ quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm (nay là Nghị định 21/2021/NĐ-CP, ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ) nên phát sinh hiệu lực. Do đó, trường hợp Công ty TNHH S1 không thanh toán số nợ trên, ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo việc thi hành án.
[3] Từ những nhận định trên, xét thấy ý kiến phát biểu về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ngân hàng được Tòa án chấp nhận nên Công ty TNHH S1 phải chịu án phí trên số tiền nợ phải trả cho ngân hàng. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát trả lại cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 91, điều 95, 147, 227, 228, 244, 266, 271, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015 và các điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Nghị định 102/2017/NĐ-CP, ngày 01/9/2017 của Chính phủ quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm và Nghị định 21/2021/NĐ-CP, ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 đối với bị đơn Công ty TNHH S1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản.
- Về tiền nợ: Buộc Công ty TNHH S1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 tổng số tiền 677.245.183 đồng (sáu trăm bảy mươi bảy triệu, hai trăm bốn mươi lăm ngàn, một trăm tám mươi ba đồng), trong đó: Tiền lãi quá hạn: 62.747.221 đồng (Sáu mươi hai triệu, bảy trăm bốn mươi bảy ngàn, hai trăm hai mươi mốt đồng); tiền phạt gốc quá hạn: 4.560.237 đồng (bốn triệu, năm trăm sáu mươi ngàn, hai trăm ba mươi bảy đồng); tiền phạt lãi quá hạn: 3.037.725 đồng (ba triệu, không trăm ba mươi bảy ngàn, bảy trăm hai mươi lăm đồng) tính đến ngày 16/9/2024 theo Hợp đồng tín dụng số BDG/000352/21 ngày 16/12/2021 giữa Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 và Công ty TNHH S1.
Tiền lãi từ ngày 17/9/2024 trở đi được tiếp tục tính trên dư nợ gốc thực tế theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi trả hết nợ.
Sau khi Công ty TNHH S1 trả hết số nợ trên, Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 và Công ty TNHH S1 có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa đăng ký giao dịch bảo đảm tài sản, Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 trả lại Công ty TNHH S1 bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61024429 ngày 16/12/2021 của Phòng C Công an tỉnh B cấp cho Công ty TNHH S1 đối với xe ôtô nhãn hiệu VINFAST LUX SA 2.0 (MÁY XĂNG, SỐ TỰ DỘNG), màu trắng – WH11, 7 chỗ, lắp ráp tại Việt Nam, biển kiểm soát 61K-001.63.
Trường hợp Công ty TNHH S1 không trả số tiền trên hoặc trả nhưng không đầy đủ thì Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu xe ôtô nhãn hiệu VINFAST LUX SA 2.0 (MÁY XĂNG, SỐ TỰ DỘNG), màu trắng – WH11, 7 chỗ, lắp ráp tại Việt Nam, biển kiểm soát 61K-001.63 đã được Phòng C Công an tỉnh B cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61024429 ngày 16/12/2021 cho Công ty TNHH S1 theo Hợp đồng thế chấp số HDTC- BDG/000352/21 ngày 20/12/2021, được đăng giao dịch tài sản bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Đà Nẵng ngày 21/12/2021.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty TNHH S1 chịu số tiền 31.089.807 đồng. (Ba mươi mốt triệu không trăm tám mươi chín ngàn tám trăm lẻ bảy đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát.
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát trả lại Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P1 số tiền 14.691.396 (mười bốn triệu, sáu trăm chín mươi mốt ngàn ba trăm chín mươi sáu đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001095, ngày 6/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số Số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Diễm Phúc |
Bản án số 22/2024/KDTM-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản
- Số bản án: 22/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TNHH MTV P khởi kiện Công ty TNHH Sản xuất chế biến và thương mại P về việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản"
