|
TÒA ÁN ND HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 22/2024/HS - ST Ngày: 14/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Mạnh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Ngô Phiên
2. Bà Nguyễn Thị Cương
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai - Thư ký TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bộ - Kiểm sát viên.
Ngày 14/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số13/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/HSST-QĐ ngày 16/5/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 08/2024/HSST-QĐ ngày 29/5/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Minh P, sinh ngày 25/5/2006; Giới tính: Nam;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hoá: 12/12; con ông Nguyễn Văn H và bà Tô Thị T; Bị cáo chưa có vợ, con; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 03/01/2024. Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1976
Địa chỉ: Bản B, xã T, Y, Bắc Giang (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo:
- Ông Nguyễn Khắc P1, Luật sư VPLS Nhân Trọng, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B
Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, Y, Bắc Giang (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bản cáo trạng số 16/CT-VKS – YT ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Minh P về tội: “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Hồi 12 giờ 20 phút ngày 28/12/2023, tại đoạn đường thuộc bản B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an huyện Y tiến hành tuần tra, kiểm soát phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Minh P đang có hành vi buôn bán hàng cấm nghi là pháo nổ. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm: 01 bao tơ dứa màu trắng xanh, bên trong có 07 túi nilong màu hồng, bên trong mỗi túi nilong đều có 01 dây, trên các dây được liên kết với nhau bằng các khối hình trụ vỏ ngoài màu đỏ, mỗi dây dài khoảng 1m (nghi là pháo nổ) được niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông dán kín, ký hiệu là “M10”; 01 xe mô tô, gắn máy nhãn hiệu DAELIMIKD, biển kiểm soát 98AL-018.01; bên trong cốp xe có 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 98002290, biển số đăng ký 98AL - 018.01, tên chủ xe là Nguyễn Văn H, địa chỉ: B, T, Y, Bắc Giang; Thu giữ trong người của Nguyễn Minh P: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp phía sau có chữ SAMSUNG, số IMEI 1: 359093386228490/01, số IMEI 2: 359768846228491/01, điện thoại cũ đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ, bên trong lắp 01 sim Viettel có in dãy số 8984048000919244860.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Minh P, thu giữ: 01 túi nilong màu đỏ, bên trong đựng 70 vật hình trụ tròn bên ngoài dán giấy màu đỏ được gắn đối xứng với nhau bằng dây ngòi màu bạc, có chiều dài 98 cm; 70 vật hình trụ bên ngoài dán giấy màu đỏ được gắn đối xứng với nhau bằng dây ngòi màu bạc, có chiều dài 98 cm; 35 vật hình trụ tròn bên ngoài dán giấy màu đỏ, mỗi vật được gắn dây ngòi màu bạc được niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông dán kín, ký hiệu "M1"; 01 dao dọc giấy có tay cầm bằng nhựa màu vàng đen; 01 lọ keo 502 bên ngoài ghi chữ Super Glue; 01 lọ keo 502 bên ngoài ghi chữ Thuận P2 (02 lọ keo đã qua sử dụng); 02 tuốc nơ vít bằng kim loại có tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 búa bằng kim loại; 01 tấm gỗ kích thước (15x10)cm, phần giữa có đóng 01 thanh kim loại hình trụ, có chiều dài từ mặt gỗ lên là 3,5cm, đường kính 0,5cm và 02 găng tay bằng vải màu xanh trắng (găng tay bên trái đã cắt hết phần đầu ngón tay) được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông dán kín, ký hiệu “M2”.
Tại bản Kết luận giám định số 06/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
"Trong 01 (một) thùng bìa cát tông có ký hiệu “Ml”, niêm phong gửi giám định: 02 (hai) dây, trên mỗi dây được liên kết với nhau bằng 70 (bẩy mươi) vật hình trụ, bên ngoài dán giấy màu đỏ được gắn đối xứng với nhau bằng dây ngòi màu bạc có chiều dài 98cm và 35 (ba mươi lăm) vật hình trụ, bên ngoài dán giấy
màu đỏ và mỗi vật có gắn dây ngòi màu bạc đều là Pháo nổ, có tổng khối lượng 3,2 kg (ba phẩy hai ki lô gam).
Trong 01 (một) thùng bìa cát tông có ký hiệu “M10”, niêm phong gửi giám định: 07 (bảy) dây, trên mỗi dây được liên kết với nhau bằng các vật hình trụ vỏ ngoài màu đỏ, mỗi dây dài khoảng 01 (một) mét đều là Pháo nổ, có tổng khối lượng 8,0 kg (tám phẩy không ki lô gam)."
Ngày 04/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y cho P xác định vật chứng là chiếc điện thoại di động SAMSUNG đã tạm giữ. P xác định chiếc điện thoại trên P sử dụng để đặt mua hóa chất sản xuất pháo và liên lạc qua Zalo với T1 để thống nhất thời gian giao pháo. Tiến hành kiểm tra tại ứng dụng Zalo có đăng nhập nick Zalo tên “Nguyễn Minh P”, số điện thoại đăng ký 0839.378.xxx phát hiện 01 đoạn tin nhắn với tài khoản Zalo tên “T1” vào ngày 27/12/2023 và 28/12/2023 với nội dung trao đổi thời gian giao bán pháo và giá bán pháo. Tuy nhiên, tiến hành kiểm tra thông tin tài khoản Zalo “Trọng” thì không kiểm tra được thông tin vì tài khoản Zalo này đã khóa và ngừng hoạt động. Kiểm tra tại phần danh bạ, tin nhắn, ảnh và các ứng dụng khác trong điện thoại thì không phát hiện tài liệu có liên quan đến hành vi phạm tội của P.
Tại Kết luận giám định số 118/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
"Trích xuất và khôi phục được 14 dữ liệu tin nhắn của tài khoản Zalo có tên “Nguyễn Minh P”, đăng ký số thuê bao: 0839.378.388 (đang đăng nhập trên ứng dụng Zalo) với tài khoản Zalo có tên “T1” trong ứng dụng Zalo lưu trữ trên chiếc điện thoại gửi giám định trong khoảng thời gian từ ngày 27/12/2023 đến hết ngày 28/12/2023.
Không trích xuất và khôi phục được thông tin về số thuê bao sử dụng để đăng ký Zalo có tên “Trọng” trong ứng dụng Zalo lưu trữ trên chiếc điện thoại gửi giám định (Tài khoản đã ngưng hoạt động)."
Ngày 16/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y cho P xác định nội dung tin nhắn được khôi phục, kết quả: P xác định đó là 14 tin nhắn Zalo về việc giao dịch mua bán pháo giữa P và T1, trong đó, có 05 tin nhắn đầu tiên Phương xóa vì sợ bị người khác phát hiện việc mua bán pháo, 09 tin nhắn sau P chưa kịp xóa.
Quá trình điều tra, P khai nhận: Trước đây, P tìm hiểu và xem một số video trên mạng xã hội về việc hướng dẫn sản xuất pháo nổ nên biết cách thức và có thể sản xuất được pháo nổ. Do đó, P nảy sinh ý định mua vật liệu về để tự sản xuất pháo nổ mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng ngày 14/12/2023, P gặp một nam thanh niên trên đoạn đường thuộc xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Quá trình nói chuyện, P chỉ biết người này tên là T1 (không rõ họ tên, năm sinh và địa chỉ cụ thể). Khi đó, T1 đặt vấn đề muốn mua 07 mét pháo nổ tự chế của P với giá
3.300.000 đồng, P đồng ý rồi hai bên thống nhất khi nào P sản xuất xong pháo sẽ giao cho T1 ở đoạn đường từ xã T đi xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Quá trình trao đổi, T1 xin số điện thoại của P và kết bạn qua mạng xã hội Zalo từ nick Zalo của T1 có tên là “T1” (P không biết số điện thoại đăng ký của T1) đến nick Zalo của P có tên “Nguyễn Minh P”, đăng ký bằng số điện thoại di động 0839.378.xxx (là sim rác P mua để đăng ký Zalo, hiện tại P không còn sử dụng). Sau đó, P đặt mua hóa chất trên mạng xã hội và tự chuẩn bị công cụ để sản xuất pháo. Trong khoảng thời gian từ ngày 18/12/2023 đến ngày 27/12/2023, P đã tiến hành sản xuất pháo tại phòng khách của gia đình ở bản B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang với quy trình sản xuất như sau:
Vỏ pháo: P sử dụng 01 con dao dọc giấy cắt giấy báo và giấy đỏ thành các đoạn có chiều rộng bằng chiều dài của 01 quả pháo khoảng 4cm. Sau đó, P cuốn các đoạn giấy báo đã cắt xung quanh ống nhựa vàng nhiều vòng tạo thành vỏ quả pháo dài khoảng 4cm, đường kính khoảng hơn 2cm, rồi tiếp tục cuốn thêm 01 vòng bằng giấy đỏ bên ngoài cùng để tạo màu sắc cho quả pháo và sử dụng keo 502 dán cố định số giấy vừa cuốn. Sau đó, P rút ống nhựa ra, đặt vỏ pháo vừa chế tạo vào thanh kim loại ở trên miếng gỗ tự chế để cố định vỏ pháo và sử dụng tuốc nơ vít ấn từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài phần rỗng bên trong vỏ pháo để bịt kín một đầu của vỏ pháo rồi dán keo 502 vào đầu vừa bịt kín để cố định.
Dây ngòi và pháo: Phương dải số thuốc pháo đã trộn lên màng bọc thực phẩm, cuốn chặt lại rồi kéo dãn ra tạo thành các dây ngòi dài (dài 98cm) và các dây ngòi ngắn (dài khoảng 6cm). Sau đó, P đổ thuốc pháo vào trong lõi vỏ pháo vừa chế tạo rồi đút dây ngòi ngắn vào trong lõi của vỏ pháo dọc theo chiều dài của quả pháo, thừa ra khoảng 3cm dây ngòi bên ngoài vỏ pháo. Tiếp đó, P dùng tuốc nơ vít ấn từ trên xuống dưới lõi pháo để giấy báo cố định chặt phần dây ngòi, rồi sử dụng keo 502 đổ vào trên miệng quả pháo để dán cố định. Theo đó, P làm được các quả pháo đơn lẻ hình trụ tròn có vỏ ngoài màu đỏ, dài khoảng hơn 3cm, đường kính khoảng hơn 2cm, có dây ngòi thừa ra bên ngoài dài khoảng 3cm.
Tràng pháo: Sau khi chế tạo được các quả pháo đơn lẻ, P gắn và dùng dây dù buộc cố định phần ngòi thừa ra của mỗi quả pháo vào dây ngòi dài (dài 98cm) đã làm, tạo thành tràng pháo dài 98cm gồm 70 quả pháo đơn lẻ liên kết đối xứng với nhau thành từng cặp.
Với cách thức như vậy, đến ngày 27/12/2023, P đã sản xuất được 09 tràng pháo được liên kết bằng các quả pháo hình trụ tròn màu đỏ và 35 quả pháo hình trụ tròn màu đỏ. Tổng khối lượng pháo nổ P sản xuất được là 11,2kg. Trong đó, P mang 07 tràng pháo đi bán cho T1 với giá 3.300.000 đồng, 02 tràng pháo và 35 quả pháo còn lại thì P cất giấu ở trong tủ kệ tivi đặt tại phòng khách để có ai hỏi mua sẽ bán lấy tiền. Cùng ngày 27/12/2023, T1 nhắn tin qua mạng xã hội Zalo cho P để hỏi về việc sản xuất pháo thì P hẹn sẽ giao pháo cho T1 vào khoảng 12
giờ ngày 28/12/2023. Đến khoảng 12 giờ ngày 28/12/2023, P quấn tròn 07 tràng pháo mà P sản xuất được cho vào 07 túi nilong màu hồng rồi đựng trong 01 bao tơ dứa màu trắng xanh. Sau đó, P đặt bao tơ dứa ở vị trí giá để hàng phía trước của xe mô tô, gắn máy nhãn hiệu DAELIMIKD màu đen, biển kiểm soát 98AL - 018.01 rồi điều khiển xe chở bao pháo trên đi từ nhà đến hướng xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Trên đường đi, P nhắn tin qua Zalo cho T1 để hỏi T1 đang ở đâu nhưng T1 không trả lời. Khi đi đến đoạn đường thuộc bản B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (cách nhà P khoảng 01 km về hướng đi xã X, huyện Y) thì P bị tổ công tác Công an huyện Y tuần tra, phát hiện, bắt quả tang P chở số pháo trên đi bán và thu giữ các vật chứng có liên quan.
Ngày 04/01/2024, Cơ quan điều tra cho Nguyễn Minh P thực nghiệm điều tra hành vi sản xuất pháo nổ. Kết quả thực nghiệm phù hợp với lời khai của P và các tài liệu Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Đối với số công cụ, hóa chất mà P mua về để làm công cụ sản xuất pháo nổ P khai nhận: Số hóa chất để sản xuất pháo là do P đặt mua trên mạng xã hội (không nhớ đặt ở trang mạng nào, không có hóa đơn mua hàng và không lưu địa chỉ hay lịch sử mua hàng), còn một số công cụ để sản xuất pháo thì P mua tại 01 cửa hàng tạp hóa ở thị trấn P, huyện Y nhưng P không nhớ tên và địa chỉ của cửa hàng đó nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với nam thanh niên tên T1 là người đặt mua pháo nổ của P, Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định, trích xuất khôi phục dữ liệu đối với tài khoản Zalo của P để xác định thông tin cá nhân, số điện thoại di động sử dụng để đăng ký tài khoản Zalo của T1 nhưng không xác định được thông tin tài khoản Zalo và số điện thoại di động sử dụng để đăng ký Zalo của T1 nên không có căn cứ để xác minh, truy tìm và xử lý.
P khai nhận thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán pháo nổ một mình, trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội, P không trao đổi, bàn bạc với ai. Trong gia đình P không ai biết việc P sử dụng các công cụ lao động, sinh hoạt của gia đình để làm công cụ sản xuất pháo nổ nên không có căn cứ xem xét xử lý đối với anh Nguyễn Văn H (bố đẻ bị can), chị Tô Thị T (mẹ đẻ bị can) và cháu Nguyễn Mai L (em gái bị can).
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh P thừa nhận toàn bộ nội dung, diễn biến hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế đã truy tố. Bị cáo nhận thấy rõ tội lỗi và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Minh P từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách 02 năm 04 tháng đến 03 năm kể từ ngày tuyên án về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp phía sau có chữ SAMSUNG, số IMEI 1: 359093386228490/01, số IMEI 2: 359768846228491/01, bên trong lắp 01 sim Viettel có in dãy số 8984048000919244860.
- - Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 thùng bìa cát tông dán kín, niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, ký hiệu là “M1”, bên trong có 2,6 kg pháo nổ;
- + 01 thùng bìa cát tông dán kín, niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Phòng K Công an tỉnh B, ký hiệu là “M10”, bên trong có 7,0 kg pháo nổ.
- + 01 (một) hộp bìa cát tông dán kín, niêm phong, ký hiệu là “Công cụ”, bên trong có: 01 (một) lọ keo 502 nhãn hiệu Super Glue; 01 (một) lọ keo 502 nhãn hiệu Thuận Phong; 02 (hai) tuốc nơ vít bằng kim loại có tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 (một) búa bằng kim loại; 01 (một) con dao dọc giấy có tay cầm bằng nhựa màu vàng; 02 (hai) găng tay bằng vải màu xanh trắng, trong đó găng tay trái bị cắt hết phần đầu ngón tay; 01 (một) tấm gỗ hình chữ nhật kích thước (10x15)cm có đóng 01 thanh kim loại đường kính 0,5cm ở chính giữa, phần nhô lên dài 3,5cm; 07 (bảy) túi nilong màu hồng; 01 (một) bao tơ rứa màu trắng xanh.
- - Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo nhất trí quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Y, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của nhưngc người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án, Hội đồng có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 18/12/2023 đến ngày 27/12/2023, Nguyễn Minh P đã có hành vi sản xuất hàng cấm là 11,2kg pháo nổ tại gia đình mình với mục đích để bán thu lợi nhuận. Hồi 12 giờ 20 phút ngày 28/12/2023, tại đoạn đường thuộc bản B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (cách nhà P khoảng 01 km về hướng đi xã X, huyện Y), khi P đang chở 08kg pháo nổ đi bán thì bị tổ công tác Công an huyện Y tuần tra, phát hiện và bắt quả tang.
Mặc dù bị cáo thực hiện hai hành vi là sản suất và bán hàng cấm là pháo nổ nhưng các hành vi này kế tiếp và có mối liên hệ mật thiết với nhau, hành vi sản suất là điều kiện cho hành vi bán, hành vi bán là hệ quả tất yếu của hành vi sản suất. Vì vậy, việc bị cáo sản xuất 11,2kg pháo nổ và bị bắt quả tang khi đem pháo nổ đi bán thì hành vi của bị cáo Nguyễn Minh P có đủ các yếu tố cấu thành tội danh đầy đủ “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 16/CT-VKS - YT ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế, sự độc quyền quản lý Nhà nước trong hoạt sản xuất, buôn bán, kinh doanh về loại hàng hoá là pháo nổ . Bên cạnh đó, nó còn có tác động xấu đến đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, việc xử lý bằng hình sự đối với bị cáo là cần thiết, có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4].Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo lần đầu phạm tội, sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; có bà nội là Lục Thị D được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất; có bố đẻ là Nguyễn Văn H được tặng Giấy khen và bản thân bị cáo được tặng nhiều Giấy khen trong học tập nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt áp dụng: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt mà điều luật quy định. Tuy nhiên, xét về nhân thân bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật bị hạn chế; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác, bị cáo đang chuẩn
bị thi tốt nghiệp THPT, cần tạo cho bị cáo cơ hội sửa chữa để trở thành công dân có ích nên không cần thiết phải cách ly bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
Bị cáo đang là học sinh, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật hình sự.
[7]. Về vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô, gắn máy nhãn hiệu DAELIMIKD màu đen, biển kiểm soát 98AL - 018.01, bên trong cốp xe có 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 98002290 thu giữ trong quá trình bắt quả tang là của ông Nguyễn Văn H (là bố đẻ của bị cáo), anh H không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội nên việc Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xecho ông H là có căn cứ.
Đối với 01 (một) điện thoại di động thu được của bị cáo là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần được tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; Đối với số pháo nổ là hàng cấm được đựng trong hai thùng bìa cát tông niêm phong ký kiệu M1, M10 (còn lại sau giám định) và các công cụ sử dụng vào việc sản xuất pháo nổ được đựng trong thùng bìa cát tông niêm phong ký hiệu “Công cụ”, cần tịch thu tiêu huỷ như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8]. Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí nên bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
Nguyễn Minh P 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày 14/6/2024 về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.
Giao bị cáo Nguyễn Minh P cho UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp phía sau có chữ SAMSUNG, số IMEI 1: 359093386228490/01, số IMEI 2: 359768846228491/01, điện thoại cũ đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ, bên trong lắp 01 sim Viettel có in dãy số 8984048000919244860.
- - Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 thùng bìa cát tông dán kín, niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, ký hiệu là “M1”, bên trong có 2,6 kg pháo nổ (còn lại sau giám định).
- + 01 thùng bìa cát tông dán kín, niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Phòng K Công an tỉnh B, ký hiệu là “M10”, bên trong có 7,0 kg pháo nổ (còn lại sau giám định).
- + 01 (một) hộp bìa cát tông dán kín, niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, ký hiệu là “Công cụ”, bên trong có: 01 (một) lọ keo 502 nhãn hiệu Super Glue; 01 (một) lọ keo 502 nhãn hiệu Thuận Phong; 02 (hai) tuốc nơ vít bằng kim loại có tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 (một) búa bằng kim loại; 01 (một) con dao dọc giấy có tay cầm bằng nhựa màu vàng; 02 (hai) găng tay bằng vải màu xanh trắng, trong đó găng tay trái bị cắt hết phần đầu ngón tay; 01 (một) tấm gỗ hình chữ nhật kích thước (10x15)cm có đóng 01 thanh kim loại đường kính 0,5cm ở chính giữa, phần nhô lên dài 3,5cm; 07 (bảy) túi nilong màu hồng; 01 (một) bao tơ rứa màu trắng xanh.
- * Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Minh P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Mạnh Hà |
Bản án số 22/2024/HS - ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 22/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Phương sản xuất buôn bán hàng cấm
