TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST Ngày 17 tháng 5 năm 2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Bá Dũng
Ông Lê Truyền Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 về "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Khánh T, sinh năm 1988; Địa chỉ: K đường C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ liên lạc: K đường C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Nhất T1, sinh năm 1987; Địa chỉ: K đường C, phường T quận H, thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ liên lạc: K đường C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn – bà Đỗ Thị Khánh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Trần Nhất T1 xây dựng gia đình với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà cha mẹ chồng tại địa chỉ K đường C, phường T quận H, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn cùng gia đình chồng nên dẫn ra riêng sống một thời gian nhưng vẫn không cải thiện được. Chồng thường xuyên xúc phạm tôi và chồng tôi không bảo vệ tôi mà còn gây gỗ với tôi. Tôi và ông T1 đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay. Nay tôi xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông T1.
Về quan hệ con chung: Tôi xác định tôi và ông Trần Nhất T1 có 01 con chung tên Trần Đỗ Gia H, sinh ngày 28/7/2016. Hiện nay, con chung đang do tôi trực tiếp nuôi dưỡng nên ly hôn tôi có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Tại Bản tự khai, Bị đơn – ông Trần Nhất T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Đỗ Thị Khánh T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà cha mẹ chồng tại địa chỉ K đường C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng có phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Tôi và bà T đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay. Nay bà T làm đơn ly hôn tôi, tôi chưa đồng ý.
Về quan hệ con chung: Tôi xác định tôi và bà Đỗ Thị Khánh T có 01 con chung tên Trần Đỗ Gia H, sinh ngày 28/7/2016. Nếu ly hôn, tôi đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, tôi không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật. Đối với bị đơn, kể từ thời điểm thụ lý đến thời điểm trước khi mở phiên tòa đã không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; tại phiên tòa hôm nay bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xử cho bà Đỗ Thị Khánh T được ly hôn với ông Trần Nhất T1; giao con chung tên Trần Đỗ Gia H, sinh ngày 28/7/2016 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; ông T1 không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, về nợ chung: không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” giữa nguyên đơn bà Đỗ Thị Khánh T đối với bị đơn ông Trần Nhất T1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố dụng dân sự.
Bị đơn là ông Trần Nhất T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt đương sự nói trên.
[2] Về nội dung vụ án: Theo nguyên đơn trình bày thì bà Đỗ Thị Khánh T và ông Trần Nhất T1 xây dựng gia đình với nhau vào năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà cha mẹ ông T1 tại địa chỉ K đường C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Trong cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay. Nay bà T xác định tình cảm không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1. Về phía bị đơn ông Trần Nhất T1 thống nhất với thời gian kết hôn và mâu thuẩn vợ chồng như bà T trình bày, tuy nhiên ông T1 không đồng ý ly hôn.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thì thấy: Cuộc hôn nhân của bà Đỗ Thị Khánh T và ông Trần Nhất T1 là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Đến nay, bà T cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không để kéo dài và không còn tình cảm với ông T1 nữa nên có quyền làm đơn khởi kiện xin ly hôn theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn, từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử ông Trần Nhất T1 đều không có mặt theo triệu tập; thông báo của Toà án, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, không tham gia các phiên hoà giải và làm đơn xin xét xử vắng mặt. Qua bản tự khai của ông T1 thể hiện vợ chồng ông có mâu thuẩn không thể hàn gắn được nhưng ông T1 không đồng ý ly hôn mà không đưa ra được phương án hàn gắn vợ chồng. Hiện nay ông bà đã không còn chung sống với nhau. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; có kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không đem lại kết quả nên cần áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Đỗ Thị Khánh T là hợp tình hợp lý.
[4] Về quan hệ con chung: Bà Đỗ Thị Khánh T trình bày vợ chồng có 01 con chung tên Trần Đỗ Gia H, sinh ngày 28/7/2016. Ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Đỗ Gia H, sinh ngày 28/7/2016 và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con; Ông T1 cũng đồng ý nếu ly hôn thì giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con. Ngoài ra Tòa án tiến hành lấy lời khai tham khảo ý kiến con chung thì cháu H có nguyện vọng được ở cùng mẹ là bà Đỗ Thị Khánh T. Do vậy nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Đỗ Gia H, sinh ngày 28/7/2016 của bà Đỗ Thị Khánh T và không yêu cầu ông Trần Nhất T1 cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp.
[5] Về quan hệ tài sản chung: Bà Đỗ Thị Khánh T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về nợ chung: Bà Đỗ Thị Khánh T trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo luật định.
[8] Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp và đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 63, 147, 227, 228, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn " của bà Đỗ Thị Khánh T đối với ông Trần Nhất T1.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Khánh T được ly hôn với ông Trần Nhất T1.
(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 62, ngày 17 tháng 6 năm 2014 của UBND phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng)
2. Về quan hệ con chung: Bà Đỗ Thị Khánh T và ông Trần Nhất T1 có 01 con chung là Trần Đỗ Gia H, sinh ngày 28/7/2016.
Giao con chung Trần Đỗ Gia H, sinh ngày 28/7/2016 cho bà Đỗ Thị Khánh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Nhất T1 không cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi về mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Đỗ Thị Khánh T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0000128 ngày 29/12/2023.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
