Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày: 20/11/2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương.

Ông Nông Trung Kiên.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với Bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn C (tên gọi khác: Lò Văn C1); sinh năm: 1958, tại CHDCND Lào; Nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Lào; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn T (tên gọi khác là Thảo B) đã chết; Con bà: Lò Thị T1 (tên gọi khác là: Nang Thi) đã chết. Bị cáo có vợ là Lò Thị P; sinh năm 1957. Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1980, con nhỏ nhất sinh năm 1987. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 08/8/1994 Bị cáo bị TAND tỉnh Lai Châu xử phạt 06 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 30/HSST, đến ngày 05/01/1999 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, Bị cáo đã được xoá án tích đối với bản án trên.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/6/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 06/6/2024, Lò Văn C mang theo 400.000 đồng và đi bộ một mình từ lán nương của gia đình tại bản Pa Thơm, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên xuống chỗ xuồng của gia đình Bị cáo tại bờ suối thuộc bản P, xã P, huyện Đ cách lán khoảng 100m để tát nước mưa ở trong xuống thì gặp 01 người đàn ông quốc tịch Lào đang đánh cá (Bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ). Bị cáo hỏi “Có Hồng phiến bán không?”. Người đàn ông đáp “Có, muốn mua bao nhiêu, giá 5.000 đồng/01 viên”, Bị cáo bảo “Bán cho tôi 400.000 đồng”. Người đàn ông bảo Bị cáo “Chờ một tỷ” rồi đi về hướng bờ suối bên phía Lào. Khoảng 10 phút sau, người đàn ông trên quay lại và đưa cho Bị cáo 01 gói nilon màu xanh và bảo “Đây, trong gói này có 80 viên”. Bị cáo lấy từ trong túi quần bên phải chiếc quần đang mặc ra 02 tờ 200.000 đồng và trả cho người đàn ông trên rồi lấy gói ma tuý trên cho vào trong túi quần phía bên phải đang mặc và đi bộ về lán của Bị cáo.

Khoảng 07 giờ cùng ngày, khi Bị cáo đang đi bộ trên đường thuộc bản P, xã P, huyện Đ để về lán nương của gia đình Bị cáo thì bị Tổ công tác của Đồn Biên phòng P2 và Phòng chống ma túy và tội phạm- Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ kiểm tra, phát hiện, thu giữ gói Hồng phiến trên tại túi quần bên phải của Bị cáo đang mặc, ngoài ra cán bộ Biên phòng không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì của Bị cáo. Sau đó, cán bộ đã mời người chứng kiến đến và đưa Bị cáo cùng toàn bộ số vật chứng về Đồn Biên phòng P để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngày 06/6/2024 Đồn Biên phòng P2 - Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, ngày 07/6/2024 Đồn Biên phòng P2, huyện Đ đã chuyển hồ sơ vụ án và bàn giao Bị cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 07/6/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Lò Văn C như sau: Số viên nén màu hồng, trên mặt mỗi viên có chữ WY, tổng số 80 viên có khối lượng là 7,83 gam gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 965/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận: 80 viên nén màu hồng, trên mặt mỗi viên có chữ WY được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Lò Văn C giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 7,35 gam.

Tại bản cáo trạng số: 193/CT-VKSHĐB ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo: Từ 05 năm 03 tháng đến 06 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy: 7,35 gam Methamphetamine vật chứng hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ và 01 túi nilon màu xanh, miệng túi có nẹp nhựa cứng là vật không có giá trị sử dụng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo tuổi đã cao, gia đình khó khăn, bên cạnh đó Bị cáo còn bị đau khớp đi lại khó khăn. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn C khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 07 giờ ngày 06/6/2024 tại khu vực bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 7,83 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...g) .........Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam; ...".

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.

[2] Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện M, tỉnh Phong Sa Ly, nước CHDC Nhân dân Lào, được gia đình cho đi học hết lớp 03/12 tại Lào thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1979 Bị cáo sang bản P, xã P, huyện Đ làm ăn, sinh sống và nhập quốc tịch Việt Nam. Bị cáo có vợ là bà Lò Thị P; sinh năm 1957, Bị cáo và bà P có 03 người con chung, con lớn nhất sinh năm 1980, con nhỏ nhất sinh năm 1987.

Ngày 08/8/1994 Bị cáo bị TAND tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) xử phạt 06 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 30/HSST, đến ngày 05/01/1999 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, Bị cáo đã được xoá án tích đối với bản án trên nhưng Bị cáo có nhân thân xấu, Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 1994.

Quá trình điều tra và truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xác định bị cáo Lò Văn C không có tên gọi khác. Nhưng thông qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định Bị cáo đã từng sử dụng tên gọi khác là Lò Văn C1; sinh năm 1958; có bố đẻ là Lò Văn T (đã chết); mẹ tên Lò Thị T1; vợ tên Lò Thị P1, 30 tuổi tại Bản án số: 30/HSST ngày 08/8/1994 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu (BL: 89 - 93) và trong quá trình chấp hành án của bản án này Bị cáo đều mang tên Lò Văn C1. Mặt khác, căn cứ vào lời khai của bị cáo Lò Văn C trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, căn cứ vào Kết luận giám định số: 1495/KL-KTHS ngày 23/9/2024 về việc trưng cầu giám định dấu vết đường vân (BL: 105; 106); Trích lục tiền án, tiền sự (BL: 142 - 146); Biên bản xác minh ngày 15/7/2024 tại Công an xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (BL: 112; 113); Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (BL số: 85) thì có đủ căn cứ xác định Lò Văn C; sinh năm: 1958; Con ông: Lò Văn T (tên tiếng Lào gọi là Thảo B) đã chết; Con bà: Lò Thị T1 (tên tiếng Lào gọi là: Nang Thi) đã chết, Bị cáo chung sống như vợ chồng với bà Lò Thị P; sinh năm 1957 có vân tay đồng nhất của cùng một người. Do đó Hội đồng xét xử xác định bị cáo Lò Văn C có tên gọi khác Lò Văn C1.

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, ngoài ra Bị cáo còn có bố vợ là ông Lò Văn K được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Ba, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS, ngoài hình phạt chính “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xong xét hoàn cảnh gia đình Bị cáo khó khăn, Bị cáo tuổi cao không có thu nhập, nên không có khả năng thi hành. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án gồm:

7,35 gam Methamphetamine vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ và 01 túi nilon màu xanh, miệng túi có nẹp nhựa cứng là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông mang quốc tịch Lào bán ma tuý cho Bị cáo do Bị cáo không biết tên, địa chỉ, thông tin khác của người đó. Vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên không có cơ sở để điều tra, xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật. HĐXX không xem xét.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi và là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Tại phiên Tòa, Bị cáo xin HĐXX miễn án phí HSST cho Bị cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C (tên gọi khác: Lò Văn C1), phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo: 05 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (06/6/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS:

* Tịch thu tiêu hủy: 7,35 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ và 01 túi nilon màu xanh, miệng túi có nẹp nhựa cứng là vật không có giá trị sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/11/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Nhà tạm giữ CAHĐB;
  • - VKSND H. Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT CAHĐB;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Chi cục THADS HĐB;
  • - Toà án ND tỉnh Điện Biên;
  • - Bộ phận HSNV C.an HĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Tố Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt Lò Văn C 05 năm 03 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger