|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2024/DS-ST Ngày 20 tháng 8 năm 2024 “V/v Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Tiến Dũng;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thu Hằng;
Ông Nguyễn Bá Điền.
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16/8/2024 và ngày 20/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 95/2023/TLST- DS ngày 20/11/2023 về việc “Đòi lại quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 và các quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QÐST-DS ngày 20/6/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QÐST-DS ngày 17/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đinh Văn L, sinh năm 1960 và bà Phùng Thị M, sinh năm 1961 (Người đại diện theo ủy quyền của bà M là ông L) (Ông L có mặt, bà M vắng mặt).
Đều địa chỉ: Khu D, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Ông Đinh Văn T, sinh năm 1975 và bà Hà Thị B, sinh năm 1976 (Người đại diện theo ủy quyền của bà B là ông T) (Ông T có mặt, bà B vắng mặt);
Đều địa chỉ: Khu A, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Việt H - Chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trường N - Chức vụ: Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường huyện Y (Theo văn bản ủy quyền số 375/UBND-TN&MT ngày 16/3/2023) (Ông N có mặt).
- Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tám B1 - Chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lý Hữu L1 - Chức vụ: Phó chủ tịch (Theo văn bản ủy quyền số 12/VBUQ ngày 18/12/2023) (Ông L1 có mặt).
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1949 (Có mặt ngày 16/82024, vắng mặt ngày 20/8/2024).
Địa chỉ: Khu A, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Phú Thọ nguyên đơn ông Đinh Văn L và bà Phùng Thị M (Bà M do ông L là người đại diện theo ủy quyền) trình bày:
Năm 1997, tôi được UBND huyện Y cấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 02, tờ bản đồ số 03, diện tích 120m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0553657 cấp ngày 20/02/1997. Khi cấp tôi không được giao đất tại thực địa cũng như không được nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng tôi đã đóng thuế đầy đủ cho nhà nước. Sau đó một thời gian, ông Lưu Trung T1 lúc đó là chủ tịch xã có đặt vấn đề với tôi về việc tôi có đất nhưng chưa có nhu cầu sử dụng thì cho UBND mượn đất cắm cho bà Nguyễn Thị L2 để bà L2 làm nhà cho anh Đinh Văn T là con trai của bà. Lý do mượn đất: khi đó bà L2 là 1 trong 3 hộ có đất ở phía gần trạm y tế xã nằm trong phạm vi có chủ trương sẽ dùng làm nhà truyền thông dân số của xã, UB xã mượn đất cho bà L2 là để đổi lấy ô đất bên đó. Tôi đồng ý cho mượn. UBND xã đã giao đất cho bà L2 và bà L2 đã làm nhà cho ông T. Việc ông T làm nhà từ năm 2004 tôi cũng biết nhưng không có ý kiến do tôi không được biết diện tích đất ông T sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại trùng vào thửa đất số 02 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tôi.
Đến năm 2018, tôi mới được cán bộ địa chính giao cho bìa đỏ sau khi đã đòi nhiều lần. Khi nhận bìa đỏ tôi mới biết được thửa đất của tôi lại có hai bìa đỏ cấp chồng lên nhau. Đề nghị Tòa án xem xét đến việc cấp đúng hay cấp sai của UBND huyện Y về việc một thửa đất được cấp chồng hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tôi khởi kiện đề nghị Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng ông T do có sự chồng lấn lên bìa đỏ của tôi và buộc vợ chồng ông T trả lại đất cho tôi.
Năm 2018, có đoàn kiểm tra của huyện về làm việc và đưa ra phương án giải quyết là sẽ để lại 3 ô đất ở khu trung tâm sau khi đấu giá để trả đất cho 3 hộ dân có đất gần trạm y tế xã như tôi đã nêu trên. Đến nay các ô đất xung quanh 3 ô đất kia thì đã có người đến sử dụng, xây nhà ở rồi, còn 3 ô đất vẫn còn nguyên chưa ai sử dụng.
Trong quá trình giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, ông L đề nghị UBND huyện là cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ trả cho ông một thửa đất khác có diện tích 120m², nếu không trả được bằng đất thì đề nghị buộc Ủy ban nhân dân huyện Y phải bồi thường cho vợ chồng bằng tiền tương ứng với giá trị của thửa đất đã được Hội đồng định giá tiến hành định giá ngày 12 tháng 5 năm 2023, giá là 4.568.000 đồng/01 m² đất ở.
* Theo bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án, bị đơn ông Đinh Văn T và bà Hà Thị B (Bà B do ông T là người đại diện theo ủy quyền) trình bày:
Về nguồn gốc thửa đất số 02, tờ bản đồ số 03, diện tích 160m² tôi được bố mẹ đẻ là ông Đinh Văn Q và bà Nguyễn Thị L2 tặng cho tôi. Ngày 16/10/2003, tôi đã được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2004, sau khi kết hôn, vợ chồng tôi đã xây dựng nhà hai tầng trên mảnh đất đó, trong khi xây nhà tôi không thấy có cơ quan có thẩm quyền hay bất kì ai khiếu nại hay có tranh chấp, bản thân ông Đinh Văn L cũng biết tôi xây dựng nhà nhưng không có ý kiến gì.
Đến năm 2013 thực hiện chính sách cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình tôi có làm thủ tục hợp thức thêm diện tích đất trồng cây lâu năm là 75,2m². Đến ngày 12/12/2013 tôi được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên, nay là thửa đất số 218, tờ bản đồ số 21, diện tích là 235,2m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 947845 đứng tên hai vợ chồng tôi. Trong quá trình sử dụng tôi có sửa chữa nhà 4 lần và khi sửa chữa cũng không có ai tranh chấp hay khiếu nại gì. Còn việc ông Đinh Văn L và bà Phùng Thị M được cấp quyền sử dụng đất đối với diện tích nêu trên tôi không được biết và cũng không có tranh chấp gì. Nhà tôi xây trên đất là xây trên toàn bộ diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ (kể cả phần diện tích hợp thức thêm), không còn thừa phần diện tích đất nào nữa.
Nay tôi không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông L vì gia đình tôi đã sử dụng ổn định nhiều năm nay và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án xem xét bảo vệ quyền lợi cho gia đình tôi.
Ông L cho ai mượn đất thì ông L phải đòi cá nhân, tổ chức đó, không liên quan đến gia đình tôi.
* Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Y ông Nguyễn Trường N trình bày:
1. UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho hộ ông Đinh Văn T sinh năm 1975 và vợ là bà Hà Thị B sinh năm 1976 thửa đất số 02, tờ bản đồ số 03, diện tích 160 m² đất ở, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận QSD đất 0592, cấp ngày 16/10/2003.
Việc UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Đinh Văn T theo quy định tại điều 24 luật đất đai ban hành ngày 24 tháng 7 năm 1993 và thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của T2 hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên do sơ suất khi cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông Đinh Văn T thì không thu lại giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ 508, ngày cấp 20/2/1997 của ông Đinh Văn L sinh năm 1960 thường trú tại khu D, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
2. Năm 2012, thực hiện dự án đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn huyện Y trong đó có xã X. Theo đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Mẫu số 02/ĐK-GCN) của ông Đinh Văn T sinh năm 1975 và vợ là bà Hà Thị B sinh năm 1976, địa chỉ thường trú khu A, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. UBND huyện đã cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất số BT 947845, ngày cấp 12 tháng 12 năm 2013, thuộc thửa đất số 218, tờ bản đồ số 21, diện tích 235,2m² (trong đó đất ở 160 m², đất trồng cây lâu năm 75,2 m²), hồ sơ đủ điều kiện để cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất theo khoản 2, điều 18, Nghị định số 84/2007/ND-CP ngày 25/5/2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận QSD đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
Việc ông L đề nghị cơ quan có thẩm quyền giao cho ông một thửa đất khác là không khả thi. Lý do là vì ông L đã được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 02, tờ bản đồ số 03, diện tích 120 m² đất ở, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận QSD đất 0592 ngày 15/10/2003 nên không thể cấp cho ông L một thửa đất khác được nữa.
Nay ông Đinh Văn L khởi kiện ông Đinh Văn T, thay mặt Ủy ban nhân dân huyện Y tôi có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Người đại diện theo ủy quyền của UBND xã X ông Lý Hữu L1 trình bày:
Vụ án này diễn ra đã lâu, gây ảnh hưởng đến công tác lãnh chỉ đạo và các mặt công tác khác của địa phương. Nguyên nhân do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đinh Văn T có số Giấy chứng nhận CH 01845, UBND huyện Y cấp ngày 12/12/2013; Thửa đất số 218, tờ bản đồ số 21, diện tích 235,2m² (Trong đó có 160m² đất ở, 75,2m² đất trồng cây lâu năm); có địa chỉ tại khu A, xã X, huyện Y, Phú Thọ. Thửa đất trên theo ông L là đất đã được UBND huyện Y cấp cho ông L và bà M theo Quyết định số 508/QSDĐ ngày 30/02/1997 là thửa đất số 02, tờ bản đồ số 03, diện tích 120m² cùng địa chỉ nêu trên.
Việc cấp đất chồng lấn là do các cơ quan có thẩm quyền, quỹ đất của xã X hiện vẫn còn nên Ủy ban nhân dân huyện Y có thể cấp cho gia đình ông L một thửa đất khác là phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
Nay ông Đinh Văn L khởi kiện ông Đinh Văn T và yêu cầu UBND huyện Y bồi thường, UBND xã X có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L2 trình bày:
Năm 1997, vợ chồng tôi có mua 2 ô đất ở gần trạm y tế xã và đã được cấp GCNQSDĐ. 1 ô đã dùng để xây nhà cho con trai lớn còn 1 ô vợ chồng tôi cho ông T. Khi tôi chuẩn bị xây nhà cho ông T thì chính quyền xã có ý kiến là thửa đất đó được dùng để làm nhà truyền thông dân số xã nên đã cắm đất đổi cho ông T thửa đất ở bên kia đường, có giao đất đúng thủ tục. Gia đình tôi không hề biết việc ô đất đó đã được cấp GCNQSDĐ cho ông L. Sau khi được cắm đổi đất thì vợ chồng ông T đã xây nhà và ở ổn định 27 năm nay. Nay ông L khởi kiện đề nghị Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng ông T và buộc vợ chồng ông T trả lại đất cho ông L thì tôi đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Như ông L trình bày là còn 3 ô đất đấu giá ở khu trung tâm thì tôi đề nghị nếu được có thể cắm trả cho các hộ dân đã nộp tiền nhưng chưa có đất để sử dụng, trong đó có hộ ông L.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm của Viện kiểm sát về nội dung vụ án:
Căn cứ khoản 2, 9 Điều 26; Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 1 điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 164,165,166 Bộ Luật dân sự;
Căn cứ Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai;
Căn cứ khoản 11 Điều 17, Điều 52, 53 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước;
Căn cứ khoản 1 Điều 27 Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn L yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Đinh Văn T.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: D 0553657 đối với thửa đất số 02, tờ bản đồ số 03, diện tích 120m² UBND huyện Y cấp ngày 20/02/1997, số vào sổ cấp GCN: 508 QSDĐ, đứng tên chủ sử dụng ông Đinh Văn L.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn L buộc Ủy ban nhân dân huyện Y phải có trách nhiệm bồi thường cho ông L giá trị thửa đất là: 120 m² x 4.568.000 đồng = 548.160.000 đồng.
Về chi phí tố tụng: Xác nhận ông Đinh Văn tự n chịu chi phí tố tụng chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ và định giá hết tổng số tiền 10.400.000 đồng (Mười triệu bốn trăm nghìn đồng). Xác nhận ông L đã nộp đủ số tiền 10.400.000 đồng (Mười triệu bốn trăm nghìn đồng).
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Văn L và Phùng Thị M đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận QSD đất 0592, Ủy ban nhân dân huyện Y cấp ngày 16/10/2003 đứng tên ông Đinh Văn T và bà Hà Thị B đối với thửa đất số thửa đất số 02, tờ bản đồ số 03 do có sự chồng lấn lên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L và bà M và buộc vợ chồng ông T trả lại đất cho vợ chồng ông L và bà M. Nếu không hủy được giấy CNQSD đất của ông T và bà B, ông L đề nghị UBND huyện Y trả cho vợ chồng ông một thửa đất khác, nếu không trả được bằng đất thì ông đề nghị Tòa án buộc Ủy ban nhân dân huyện Y phải bồi thường bằng tiền tương ứng với giá trị của thửa đất đã được Hội đồng định giá định giá
Vậy quan hệ tranh chấp dân sự trong vụ án này liên quan đến quyền sử dụng đất bị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chồng lấn, yêu cầu bồi thường. Xét thấy cần thiết phải xem xét việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Quan hệ tranh chấp trong vụ án này là Tranh chấp quyền sử dụng đất nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 155 Bộ luật dân sự.
[3] Về trình tự thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã tiến hành các trình tự, thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.
[4] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn L Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Nguồn gốc thửa đất số 02, tờ bản đồ số 03, diện tích 160m² có địa chỉ tại khu A, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ đứng tên anh Đinh Văn T là do ông T được bố mẹ là ông Đinh Văn Q và bà Nguyễn Thị L2 cho, ngày 16/10/2003 ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2004 ông T, bà B (vợ ông T) đã xây dựng nhà 02 tầng trên diện tích đất đó, đến năm 2013 thì cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T đã hợp thức thêm 75,2 m² đất trồng cây lâu năm. Ngày 12/12/2013 ông T được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 218, tờ bản đồ số 21, diện tích 235,2m². Trong suốt quá trình xây nhà từ năm 2004, vợ chồng ông T và sử dụng ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp với ai.
Về hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ cho ông T, bà B: Được UBND huyện Y cung cấp:
Ngày 16/10/2003 UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho hộ ông Đinh Văn T và vợ là bà Hà Thị B thửa đất số 02, tờ bản đồ số 03, diện tích 160 m² đất ở, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận QSD đất 0592. Việc UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Đinh Văn T theo quy định tại điều 24 luật đất đai ban hành ngày 24 tháng 7 năm 1993 và thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của T2 hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên do sơ suất khi cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông Đinh Văn T thì không thu lại giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ 508, ngày cấp 20/2/1997 của ông Đinh Văn L sinh năm 1960 thường trú tại khu D, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
Năm 2012, thực hiện dự án đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn huyện Y trong đó có xã X. Theo đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Đinh Văn T và vợ là bà Hà Thị B. UBND huyện đã cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất số BT 947845, ngày cấp 12 tháng 12 năm 2013, thuộc thửa đất số 218, tờ bản đồ số 21, diện tích 235,2m² (trong đó đất ở 160 m², đất trồng cây lâu năm 75,2 m²), hồ sơ đủ điều kiện để cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất theo khoản 2, điều 18, Nghị định số 84/2007/ND-CP ngày 25/5/2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận QSD đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
Như vậy thấy rằng quan điểm của UBND huyện Y về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 và cấp đổi năm 2013 của UBND huyện Y cho ông T bà B là thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Hơn nữa gia đình ông T sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003, năm 2004 gia đình ông T đã xây nhà 02 tầng kiên cố ở ổn định từ đó cho đến nay không có tranh chấp gì. Nên không có căn cứ để Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, bà B và không có căn cứ để buộc ông T, bà B phải trả lại thửa đất này cho vợ chồng ông L.
Đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông L và bà M. Xét thấy năm 1997 ông L có đơn đề nghị xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0553657 đối với thửa đất số 02, tờ bản đồ số 03, diện tích 120m² (Đất thổ cư); địa chỉ thửa đất: Xóm A, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Thủ tục cấp đất cho ông L là đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật có quyết định giao đất lưu trong hồ sơ tại phòng tài nguyên môi trường huyện Y, có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước nhưng không có biên bản giao đất tại thực địa. Sau khi được cấp đất nhưng ông L không sử dụng, không biết diện tích đất mình được giao nằm ở vị trí nào.
Theo lời trình bày của ông Đinh Văn L, bà Nguyễn Thị L2 thì thời điểm cấp đất cho ông L và bà L2, chính quyền xã X có trao đổi với ông L, bà L2 để đổi thửa đất của ông L đã được cấp ngày 20/02/1997 cho bà L2, để UBND xã lấy thửa đất của bà L2 làm nhà truyền thông dân số, nay là trạm y tế của xã và sẽ cấp cho ông L thửa đất khác, ông L, bà L2 đều đồng ý nhưng thoả thuận đó không có văn bản giấy tờ gì. Nhưng căn cứ lời trình bày của các đương sự, những người liên quan qua các thời kỳ, quan điểm của UBND xã X, của UBND huyện Y thì việc đổi đất giữa ông L, bà L2 là có thật, cả ông L và bà L2 đều không có lỗi trong việc này, mà lỗi là của UBND huyện Y trong việc cấp và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng, gây ảnh hưởng tới quyền lợi của đương sự, người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Y cũng thừa nhận sơ suất khi cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông Đinh Văn T thì không thu lại giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ 508, ngày cấp 20/2/1997 của ông Đinh Văn L.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông L khởi kiện bổ sung yêu cầu đề nghị UBND huyện là cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trả cho ông một thửa đất khác, nếu không trả được bằng đất thì đề nghị Tòa án buộc Uỷ ban phải bồi thường cho ông bằng tiền tương ứng với giá trị của thửa đất đã được Hội đồng định giá định giá. Trong vụ án này UBND huyện Y tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng có sai sót gây ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự. Vì vậy để giải quyết triệt để vụ án và đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn nên UBND huyện Y phải có trách nhiệm bồi thường cho ông L, bà M theo quy định của pháp luật.
Do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0553657 Ủy ban nhân dân huyện Y cấp ngày 20/02/1997 đối với thửa đất số 02, tờ bản đồ số 03, diện tích 120m² đứng tên ông Đinh Văn L có sự chồng lấn nên phải hủy theo quy định của pháp luật.
[5] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ và định giá hết tổng số tiền 10.400.000 đồng. Ông L xin tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng nên cần xác nhận.
[6] Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện Y phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2, 9 Điều 26; Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 1 điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157, Điều 165, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 164, điều 165, điều 166 và điều 170 Bộ Luật dân sự;
Căn cứ Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai;
Căn cứ khoản 11 Điều 17, Điều 52, 53 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước;
Căn cứ khoản 1 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn L và bà Phùng Thị M về việc đòi lại quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận QSD đất 0592, UBND huyện Y cấp ngày 16/10/2003 cho hộ ông Đinh Văn T đối với thửa đất số 02, tờ bản đồ số 03, diện tích 160 m² đất ở (Nay là thửa đất số 218, tờ bản đồ số 21, diện tích 235,2m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 947845, UBND huyện Y cấp ngày 12/12/2013).
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: D 0553657 đối với thửa đất số 02, tờ bản đồ số 03, diện tích 120m² UBND huyện Y cấp ngày 20/02/1997, số vào sổ cấp GCN: 508 QSDĐ, đứng tên chủ sử dụng ông Đinh Văn L.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn L và bà Phùng Thị M về việc buộc Ủy ban nhân dân huyện Y phải bồi thường cho ông L và bà M số tiền là: 548.160.000 đồng (Năm trăm bốn mươi tám triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đinh Văn L xin chịu toàn bộ chi phí tố tụng cho việc xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ và định giá hết tổng số tiền 10.400.000 đồng (Mười triệu bốn trăm nghìn đồng). Xác nhận ông L đã nộp đủ số tiền 10.400.000 đồng (Mười triệu bốn trăm nghìn đồng).
- Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện Y phải chịu 25.926.400 (Hai mươi lăm triệu chín trăm hai mươi sáu nghìn bốn trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
“Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tiến Dũng |
Bản án số 22/2024/DS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường
- Số bản án: 22/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn L - Đinh Văn T - Tranh chấp quyền sử dụng đất
