Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày: 20 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Ninh và ông Văn Anh Trình

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Trang Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Hiếu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST - HS ngày 18 tháng 3 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo Nguyễn Hữu T, sinh ngày 03 tháng 9 năm 1982 tại xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Nguyễn Hữu T1 (đã chết) và bà Mai Thị T2, sinh năm 1947. Vợ là Trần Thị L, sinh năm 1987. Bị cáo có 02 (hai) người con; con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không.
  2. Quá trình bản thân: Ngày 26/11/2015, Nguyễn Hữu T bị Công an huyện Q xử phạt hành chính tại Quyết định số 07/QĐ-XPVPHC về hành vi khai thác cát lòng sông trái phép.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  3. Bị cáo Trần Quang V, sinh ngày: 19 tháng 8 năm 1986 tại xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: làm ruộng; Con ông: Trần Văn L1 (đã chết) và bà Bùi Thị H, sinh năm:1958; Vợ là Trần Thị K, sinh năm 1987. Bị cáo có 02 (hai) người con; con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không.
  4. Quá trình bản thân: Trần Quang V bị xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 8891 ngày 21/10/2004 của Công an huyện Q về hành vi không giao nộp vũ khí, vật liệu nổ. Ngày 21/9/2020, bị UBND xã X, huyện Q xử phạt hành chính tại Quyết định số 12/QĐ-XPVPHC về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  5. Bị cáo Trần Văn H1, sinh ngày: 20 tháng 12 năm 1990 tại tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: làm ruộng; Con ông Trần Văn P (sinh năm: 1966) và bà Hồ Thị X (Sinh năm: 1967). Vợ là Trương Thị H2, sinh năm 1996. Bị cáo có 02 (hai) người con; con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không.
  6. Quá trình bản thân: Trần Văn H1 bị xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 65/QĐ-XPHC ngày 25/7/2007 của Công an huyện Q về hành vi chống người thi hành công vụ. Ngày 01/3/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” tại Bản án số 12/2017/HSPT. Ngày 20/8/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 82/2014/HSPT.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  7. Bị cáo Phạm Văn T3, sinh ngày: 10 tháng 4 năm 1974 tại tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Phạm Minh Á (sinh năm: 1944) và bà Nguyễn Thị T4 (Sinh năm: 1949; Vợ là Nguyễn Thị L2, sinh năm 1976. Bị cáo có 02 (hai) người con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: không
  8. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  9. Bị cáo Phạm Xuân S, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1973 tại: xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: làm ruộng; Con ông Phạm Xuân K1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L3 (đã chết). Vợ là Từ Thị N, sinh năm 1972. Bị cáo có 03 (ba) người con; con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: không.
  10. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: ông Phạm văn H3, sinh năm 1984, địa chỉ: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 55 phút ngày 27/12/2023, qua việc xác minh tin báo của quần chúng nhân dân, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế và Ma túy Công an huyện Q phối hợp với Công an xã X, huyện Q đã phát hiện tại nhà ở của Phạm Văn T3, bắt quả tang Phạm Văn T3, Nguyễn Hữu T, Trần Quang V, Trần Văn H1, Phạm Xuân S đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức cào tố (bài ba cây) thắng thua bằng tiền. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số tiền 6.630.000 đồng (sáu triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 và 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, bộ E (năm mươi hai) quân bài.

Quá trình điều tra, các đối tượng trên khai nhận: Vào khoảng 16 giờ ngày 27/12/2023, tại nhà của Phạm Văn T3, Phạm Văn T3, Nguyễn Hữu T, Trần Quang V, Trần Văn H1 và Phạm Xuân S cùng rủ nhau đánh bài ăn tiền bằng hình thức cào tố (bài ba cây). Cách thức đánh như sau: Trước khi đánh, những người chơi quy ước với nhau: Mỗi người chơi đặt ra giữa sòng bài số tiền 10.000 đồng (gọi là tiền mậu), sau đó sử dụng bộ bài tú lơ khơ có 52 (năm mươi hai) quân bài chia cho mỗi người 03 quân bài. Người chia bài được đánh trước với số tiền đặt tối thiểu 10.000 đồng, tối đa 50.000 đồng (gọi là tiền tố), những người chơi tiếp theo có thể đánh hoặc không đánh. Nếu những người chơi tiếp theo không đánh thì người đánh đầu tiên sẽ thắng với toàn bộ số tiền đã đặt trên ván bài và ván bài đó kết thúc. Nếu người tiếp theo đánh thì sẽ đặt số tiền tương ứng với số tiền người chơi trước đã đặt hoặc đặt thêm số tiền cần đánh để người tiếp theo có cơ sở đánh. Nếu không có ai đánh nữa, những người chơi lật bài ra kiểm tra. Bài người nào to nhất thì sẽ thắng toàn bộ số tiền đã đặt trên ván bài. Khi có hai người trở lên cùng hoà điểm cao nhất thì chia đều số tiền thắng cho những bên có điểm cao nhất đó. Cách tính điểm như sau: Lớn nhất là X1, X1 gồm 3 quân bài bằng nhau, trong đó, Xam A (Át) lớn nhất, Xam 2 nhỏ nhất. Tiếp đến là L4, L4 gồm 3 quân bài liên tiếp nhau, trong đó L4 lớn nhất là Q, K, A, Liêng nhỏ nhất là A, 2, 3. Tiếp đến là Ba T5, Ba T5 chỉ gồm 3 quân bài có hình người J, Q, K và và cuối cùng là 9 điểm, điểm được tính theo số ghi trên quân bài theo thứ tự từ 2 đến 9. Riêng quân bài 10 và các quân bài có hình người được tính 0 điểm, quân bài A được tính 01 điểm (khi so bài tính điểm với nhau).

Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ trên chiếu bạc 6.630.000 đồng (sáu triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 và 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, bộ E (năm mươi hai) quân bài.

Tại bản Cáo trạng số 09/CT – VKS ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu T, Trần Quang V, Trần Văn H1, Phạm Văn T3, Phạm Xuân S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa: giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu T, Trần Quang V, Trần Văn H1, Phạm Văn T3, Phạm Xuân S phạm tội “Đánh bạc".

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phạm Văn T3, Phạm Xuân S, Nguyễn Hữu T;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Quang V

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn H1

Đề nghị xử phạt các bị cáo Phạm Văn T3, Phạm Xuân S, Trần Quang V, Nguyễn Hữu T, Trần Văn H1 từ 6 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 24 tháng.

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền: 6.630.000 đồng (sáu triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) đã thu giữ trên chiếu bạc của các bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, bộ E (năm mươi hai) quân bài mà các bị cáo dùng để đánh bạc.

Về án phí sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan Điều tra, cơ quan Truy tố đã thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, ban hành các quyết định theo đúng trình tự pháp luật quy định.
  2. Xem xét hành vi bị truy tố của các bị cáo:

Tại phiên toà các bị cáo đều khai thừa nhận hành vi như sau: vào khoảng 16 giờ ngày 27/12/2023, Nguyễn Hữu T, Trần Quang V, Trần Văn H1, Phạm Văn T3, Phạm Xuân S cùng nhau đánh bài ăn tiền bằng hình thức cào tố (bài ba cây). Cách thức đánh như sau: trước khi đánh, những người chơi quy ước với nhau mỗi người chơi đặt ra giữa sòng bài số tiền 10.000 đồng (gọi là tiền mậu), sau đó sử dụng bộ bài tú lơ khơ có 52 (năm mươi hai) quân bài chia cho mỗi người 03 quân bài. Người chia bài được đánh trước với số tiền đặt tối thiểu 10.000 đồng, tối đa 50.000 đồng (gọi là tiền tố), những người chơi tiếp theo có thể đánh hoặc không đánh. Nếu những người chơi tiếp theo không đánh thì người đánh đầu tiên sẽ thắng với toàn bộ số tiền đã đặt trên ván bài và ván bài đó kết thúc. Nếu người tiếp theo đánh thì sẽ đặt số tiền tương ứng với số tiền người chơi trước đã đặt hoặc đặt thêm số tiền cần đánh để người tiếp theo có cơ sở đánh. Nếu không có ai đánh nữa, những người chơi lật bài ra kiểm tra. Bài người nào điểm lớn nhất thì sẽ thắng toàn bộ số tiền đã đặt trên ván bài. Khi có hai người trở lên cùng hoà điểm cao nhất thì chia đều số tiền thắng cho những bên có điểm cao nhất đó.

Vào lúc 16 giờ 55 phút ngày 27/12/2023, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế và Ma túy Công an huyện Q phối hợp với Công an xã X, huyện Q đã bắt quả tang: Phạm Văn T3, Phạm Văn T3, Nguyễn Hữu T, Trần Quang V, Trần Văn H1, Phạm Xuân S tại nhà ở Phạm Văn T3 đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức cào tố (bài ba cây) thắng thua bằng tiền. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số tiền 6.630.000 đồng (sáu triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 và 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, bộ E (năm mươi hai) quân bài.

Các bị cáo Phạm Văn T3, Nguyễn Hữu T, Trần Quang V, Trần Văn H1, Phạm Xuân S đều là những người có năng lực hành vi trách nhiệm hình sự; nhận thức được pháp luật quy định cấm đánh bạc bất hợp pháp dưới mọi hình thức nhưng các bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của nhân chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố và lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo là có cơ sở.

  1. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Phạm Văn T3, Nguyễn Hữu T, Trần Quang V, Trần Văn H1, Phạm Xuân S không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Đối với các bị cáo Phạm Văn T3, Phạm Xuân S, Nguyễn Hữu T, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có bố mẹ là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân, huy chương, vì vậy các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Trần Quang V, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Trần Văn H1, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có thời gian phục vụ trong Quân đội, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét, quyết định hình phạt tương xứng, phù hợp với các tình tiết giảm nhẹ của từng bị cáo.

  1. Về tính chất, mức độ, phân hóa vai trò phạm tội của các bị cáo và áp dụng hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người dân xung quanh và xã hội. Các bị cáo cơ bản có vai trò như nhau, cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc. Tuy nhiên vụ án này tính chất đồng phạm giản đơn, tự phát, không có sự bàn bạc, tổ chức, câu kết chặt chẽ.

Về hình phạt: nhận thấy các bị cáo đều có 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 BLHS; mức độ tội phạm các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, quá điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều chấp hành tốt nghĩa vụ của mình, việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội là không cần thiết; vì vậy cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cũng thể hiện tính nghiêm minh, đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo.

Các bị cáo Phạm Văn T3 và Phạm Xuân S có nhân thân tốt, chưa vi phạm phạm luật lần nào do đó được hưởng hình phạt thấp hơn các bị cáo khác. Đối với bị cáo Nguyễn Hữu T là người cù rủ đánh bài trước nên cũng cần có hình phạt tương xứng. Đối với bị cáo Trần Văn H1 đã từng 02 lần bị kết án và thi hành hình phạt của bản án nhưng vẫn không lấy làm bài học cho mình, thể hiện ý thức rèn luyện bản thân kém, vì vậy cần xử lý mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác.

Đối với bị cáo Phạm Văn T3 sử dụng nhà ở của mình cho cả nhóm đánh bạc nhưng không thu lợi bất chính từ việc đánh bạc, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét xử lý thêm.

Đối với Phạm Văn H4, sinh năm 1984, địa chỉ thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình có mặt thời điểm Cơ quan Công an huyện Q bắt quả tang các bị cáo về hành vi đánh bạc. Quá trình điều tra, không có cơ sở để xác định H5 tham gia, giúp sức và nhận lợi ích từ việc đánh bạc nên không có cơ sở để xử lý trong vụ án này.

  1. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, để xem xét, xử lý các vật chứng sau:

- Đối với số tiền 6.630.000 đồng (sáu triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 mà Cơ quan điều tra đã thu giữ trên chiếu bạc, các đối tượng dùng để sát phạt thắng thua, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, bộ E (năm mươi hai) quân bài, cơ quan điều tra thu được tại chiếu bạc là phương tiện, công cụ các bị cáo dùng phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  2. Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xử:

  1. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T3, Nguyễn Hữu T, Trần Quang V, Trần Văn H1, Phạm Xuân S phạm tội “Đánh bạc".

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Phạm Văn T3, Phạm Xuân S 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quang V 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H1 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Phạm Văn T3, Nguyễn Hữu T, Trần Quang V, Trần Văn H1, Phạm Xuân S cho UBND xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình quản lý, giám sát và giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 6.630.000 đồng (sáu triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) mà cơ quan điều tra thu giữ trên chiếu bạc, theo ủy nhiệm chi lập ngày 20/3/2024 giữa Công an huyện Q và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tại Kho bạc Nhà nước huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, bộ E (năm mươi hai) quân bài mà cơ quan điều tra thu giữ được tại chiếu bạc, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Q và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

  1. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Phạm Văn T3, Nguyễn Hữu T, Trần Quang V, Trần Văn H1, Phạm Xuân S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/5/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - UBND xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về đánh bạc

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Thắng cùng đồng bọn phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger