|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 4 - 2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu;
Ông Bùi Đức Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 44/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thùy L, sinh năm 1997
HKTT: Thôn Nam Lâu, xã Thanh Tân, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Địa chỉ hiện nay: Village House T, 1 I, thành phố T, tỉnh Fukuoka 825-0001, Nhật Bản
Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 10/02/2023.
Hộ chiếu số C1704068 do Cục Q cấp ngày 27/4/2016
-
Bị đơn: Anh Ngô Văn N, sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 02/5/2018.
(Tại phiên tòa sơ thẩm, chị L, anh N vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai, nguyên đơn là chị Bùi Thị Thùy L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Thùy L và anh Ngô Văn N tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình ngày 09/10/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì chị L, anh N cùng đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Tuy nhiên, vợ chồng chị không chung sống và làm việc gần nhau, hai anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau và sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Tháng 02/2024 anh N về Việt Nam, vợ chồng chị thỏa thuận thống nhất ly hôn. Nay chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh N không còn, chị làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Văn N.
Về quan hệ con chung: Chị và anh N có 01 con chung là cháu Ngô Minh D, sinh ngày 30/11/2014, hiện nay cháu D đang ở cùng anh N. Sau khi ly hôn, chị và anh N thỏa thuận để anh N được trực tiếp nuôi con, chị và anh N tự thỏa thuận về mức cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Chị L và anh N không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Do chị Bùi Thị Thùy L đang sinh sống và làm việc ở Nhật Bản không thể về Việt Nam tham gia tố tụng để giải quyết việc ly hôn với anh Ngô Văn N tại Tòa án được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt chị. Ngày 21/3/2024, chị L đã có văn bản ủy quyền cho anh Phan Hải P, sinh năm 1988; địa chỉ: Số nhà A ngõ G, phố G, phường G, quận L, thành phố Hà Nội về việc giao nhận các tài liệu, văn bản liên quan đến việc ly hôn với Tòa án và có trách nhiệm tống đạt các văn bản trên cho chị L.
Tại bản tự khai ngày 02/4/2024, anh Ngô Văn N trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh N đồng ý với điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị L trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống với nhau tại gia đình anh N ở thôn N, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình. Đến năm 2016, anh N, chị L cùng sang Nhật Bản lao động nhưng không được ở gần và làm việc cùng nhau.Từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, sống xa cách nên không thường xuyên liên lạc, quan tâm đến cuộc sống của nhau và cũng từ thời gian đó vợ, chồng sống ly thân, không còn tình cảm với nhau. Nay chị L xin ly hôn, anh đồng ý.
Về quan hệ con chung: Anh N và chị L có 01 con chung là cháu Ngô Minh D, sinh ngày 30/11/2014, hiện nay cháu D đang ở cùng anh N và ông bà nội. Anh đề nghị sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi con, anh N và chị L tự thỏa thuận về mức cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Tại Đơn trình bày nguyện vọng của cháu Ngô Minh D: Cháu D trình bày cháu sinh ngày 30/11/2014, là con của mẹ Bùi Thị Thùy L và bố Ngô Văn N. Khi bố mẹ ly hôn cháu xin được ở với bố là Ngô Văn N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
- Về tố tụng: Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án chị Bùi Thị Thùy L xin ly hôn anh Ngô Văn N theo thủ tục chung, chị L đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn như cung cấp Bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, cung cấp các chứng cứ chứng minh và đề nghị Toà án không hòa giải. Anh N đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và gửi bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Thùy L cho Tòa án. Chị L và anh N đều đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Bùi Thị Thùy L và anh Ngô Văn N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 09/10/2014 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chị L và anh N chung sống với nhau tại thôn N, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình. Đến năm 2016, khi anh N, chị L cùng sang Nhật Bản lao động nhưng không được ở gần và làm việc cùng nhau. Từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, sống xa cách nhau nên không thường xuyên liên lạc, quan tâm đến cuộc sống của nhau. Vì thế cuộc sống hôn nhân giữa chị L và anh N không có hạnh phúc. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị L và anh N đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị L, áp dụng khoản 1 Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết cho chị Bùi Thị Thùy L được ly hôn với anh Ngô Văn N.
- Về quan hệ con chung: Chị L và anh N có 01 con chung là Ngô Minh D, sinh ngày 30/11/2014, hiện nay cháu D đang ở cùng anh N và ông bà nội. Ly hôn, chị L và anh N đều có nguyện vọng giao con chung cho anh Ngô Văn N trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Ngô Minh D cũng có nguyện vọng được ở với anh N. Để đảm bảo ổn định cuộc sống, môi trường học tập và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, cần giao cháu D cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L và anh N tự thỏa thuận về mức cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung. Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị L, anh N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
- Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Thùy L và anh Ngô Văn N không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
- Về án phí và lệ phí Tòa án: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, nguyên đơn chị Bùi Thị Thùy L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự. khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Thùy L được ly hôn anh Ngô Văn N.
-
Về quan hệ con chung: Xử giao con Ngô Minh D, sinh ngày 30/11/2014 cho anh Ngô Văn N trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết đối với chị Bùi Thị Thùy L.
Chị L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị L, anh N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
- Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Bùi Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị L đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000142 ngày 08 tháng 4 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
- Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn chị Bùi Thị Thùy L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Bị đơn anh Ngô Văn N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thế Tương |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
