|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2023/DS-ST Ngày: 18 - 8 - 2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Oanh Kiều
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Hồng Trang;
Bà Đặng Thị Lan Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Út Nhỏ, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T2 JACCS (gọi tắt JIVF);
Người đại diện theo pháp luật: Ông Yoshikawa T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của ông Yoshikawa T: Bà Nguyễn Thị H - Chức vụ: Trưởng Bộ phận cấp cao bộ phận quản lý công nợ, là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 06/12/2022).
Người đại diện theo ủy quyền lại của bà Nguyễn Thị H: Anh Lê Trương T1, sinh năm 1989 - Chức vụ: nhân viên quản lý công nợ - JIVF, là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 09/3/2023).
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Văn M, sinh năm 1990;
Cư trú tại: tổ A, ấp G, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 02 năm 2022 của nguyên đơn – Công ty T2 JACCS và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – anh Lê Trương T1 trình bày:
Vào ngày 22/01/2022, anh Trần Văn M có ký hợp đồng với Công ty T2 JACCS (gọi tắt JIVF) để vay tiền mua xe máy theo hình thức trả góp hàng tháng, thời hạn vay là 24 tháng, số tiền vay là 50.691.000 đồng, lãi suất trong hạn: 4,1772%/tháng, 50,1266%/năm, lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn, anh M có trách nhiệm thanh toán bao gồm gốc và lãi mỗi tháng số tiền 3.397.258 đồng, bắt đầu từ ngày 22/02/2022.
Từ khi vay đến nay anh M không thực hiện nghĩa vụ thanh toán mặc dù JIVF đã liên hệ nhiều lần.
Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 02 năm 2022, JIVF yêu cầu anh M phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ số tiền gốc 50.691.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 19/4/2023 là 30.048.946 đồng và tiếp tục thanh toán cho JIVF tiền lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn từ sau ngày 19/4/2023 cho đến khi hết nợ.
Ngày 18/8/2023, JIVF có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu anh M trả nợ gốc 50.691.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 19/4/2023 là 30.048.946 đồng, tổng cộng 80.740.000 đồng, không yêu cầu tính lãi phát sinh kể từ ngày 20/4/2023.
Bị đơn anh Trần Văn M trình bày:
Năm 2022, anh có mua 01 xe máy hiệu Honda tại cửa hàng ở tỉnh Bình Dương, không nhớ rõ thời gian và địa chỉ cửa hàng. Anh được cửa hàng giới thiệu cho vay tiền của công ty tài chính số tiền là 50.691.000 đồng, có ký hợp đồng tín dụng và các giấy tờ thủ tục vay vốn, khi vay không thế chấp tài sản. Anh xác nhận chữ ký, chữ viết họ tên trong hợp đồng tín dụng và giấy đề nghị vay kiêm phương án sử dụng vốn, xác nhận của các bên liên quan đến việc xác lập hợp đồng vay ngày 22/01/2022 là của anh. Từ khi vay đến nay anh chưa trả nợ gốc và lãi lần nào. Anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010; Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của JIVF đối với anh Trần Văn M về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” buộc anh Trần Văn M có trách nhiệm trả cho JIVF số tiền gốc và lãi là 80.739.946 đồng. Ghi nhận JIVF không yêu cầu tính lãi từ ngày 20/4/2023.
- Về án phí: anh Trần Văn M phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng:
Anh Lê Trương T1 và anh Trần Văn M có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T1, anh M.
JIVF khởi kiện yêu cầu anh M trả số tiền nợ theo hợp đồng đã ký kết ngày 22/01/2022 nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về nợ gốc: xét chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Hợp đồng tín dụng số CIF 000238737 ngày 22/01/2022, giấy đề nghị vay kiêm phương án sử dụng vốn và xác nhận của các bên liên quan đến việc xác lập hợp đồng vay ngày 22/01/2022 thể hiện nội dung anh M có vay của JIVF số tiền 50.691.000 đồng, anh M cũng thừa nhận có vay của JIVF số tiền 50.691.000 đồng để mua xe máy, chữ ký và chữ viết họ tên trong hợp đồng tín dụng và các giấy đề nghị vay vốn là của anh M. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xác định việc anh M có vay của JIVF số tiền 50.691.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số CIF 000238737 ngày 22/01/2022 là có thật. Anh M trình bày từ khi vay đến nay anh M không thanh toán gốc, lãi cho JIVF như thỏa thuận. Như vậy, anh M đã vi phạm Điều 3 và Điều 8 của Hợp đồng tín dụng nêu trên. Do đó, JIVF yêu cầu anh M trả số tiền nợ gốc 50.691.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về tiền lãi: căn cứ Hợp đồng tín dụng ngày 22/01/2022, thể hiện anh M và JIVF thỏa thuận thời hạn vay là 24 tháng, lãi suất: 4,1772%/tháng, 0,1266%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, kỳ hạn trả nợ theo tháng. Nay JIVF chỉ yêu cầu anh M trả tiền lãi tính đến ngày 19/4/2023 là 30.048.946 đồng. Anh M cũng thừa nhận nợ và đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy sự thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần tiền lãi cụ thể không yêu cầu tính lãi phát sinh từ ngày 20/4/2023 là tự nguyện nên ghi nhận.
Từ những nhận định, phân tích trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của JIVF buộc anh M trả tổng số tiền 80.740.000 đồng gồm nợ gốc 50.691.000 đồng và tiền lãi 30.048.946 đồng. Ghi nhận JIVF không yêu cầu tính lãi kể từ ngày 20/4/2023 cho đến ngày xét xử. Do đó, đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên là có căn cứ.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của JIVF được chấp nhận nên anh M phải chịu 4.037.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 357, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 JACCS về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc anh Trần Văn M có nghĩa vụ trả cho Công ty T2 JACCS tổng số tiền 80.740.000 (tám mươi triệu bảy trăm bốn mươi nghìn) đồng gồm tiền nợ gốc là 50.691.000 đồng và tiền lãi là 30.049.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất 10%/năm.
2. Về án phí:
Buộc anh Trần Văn M phải chịu 4.037.000 (bốn triệu không trăm ba mươi bảy nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Công ty T2 JACCS không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Công ty T2 JACCS 1.988.000 (một triệu chín trăm tám mươi tám nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004298 ngày 27/02/2023 tại Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Oanh Kiều |
Bản án số 22/2023/DS-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 22/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cong ty tai chinh - M
