|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17/9/2024
“V/v Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Văn Đông
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lương Văn Duẩn.
2/ Bà phan Thị Duệ.
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 38 /2024/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vi Thị H, sinh năm: 1997.
- Bị đơn: Anh Quang Văn H1, sinh năm: 1995.
Trú tại: bản N, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Trú tại: bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/6/2024 và qua lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị H trình bày:
Chị Vi Thị H đăng ký kết hôn với anh Quang Văn H1 vào ngày 31/01/2023 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Do sự bồng bột của tuổi trẻ nên trước khi kết hôn hai bên không có thời gian tìm hiểu kỹ về nhau, với sự tác động của gia đình chị H đồng ý kết hôn với anh H1, tuy nhiên sau khi tổ chức cưới, hỏi theo phong tục tập quán và sống với nhau một thời gian ngắn chị H nhận thấy hai bên không phù hợp về tính cách, lối sống, suy nghĩ cũng như quan điểm sống nên cuộc sống không có tình cảm và hạnh phúc, do đó chị H trở về nhà bố mẹ đẻ sống ly thân với anh H1 từ tháng 3 năm 2023 đến nay, trong thời gian ly thân hai bên không liên lạc hay có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, chị H xác định không còn tình cảm với anh H1 để có thể tiếp tục chung sống xây dựng hạnh phúc gia đình lâu dài với nhau, do đó chị H yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh Quang Văn H1.
Về con chung: Giữa chị H và anh H1 không có con chung với nhau.
Về tài sản chung và nợ chung: Giữa hai bên sống với nhau một thời gian ngắn và ly thân nên không có tài sản chung hay tranh chấp gì về phần tài sản, do đó chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Quang Văn H1, sau khi thụ lý giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thủ tục tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn, cũng như giấy triệu tập, các văn bản tố tụng khác cho anh H1 theo quy định, vì lý do công việc cá nhân anh H1 không có mặt ở nhà tại thời điểm tống đạt nên bố đẻ anh H1 là ông Quang Văn Đ ký nhận hộ các giấy tờ và cam kết thông báo, giao tận tay cho anh H1 biết, sau khi nhận được thông báo về việc yêu cầu có mặt tham gia giải quyết vụ án không rõ vì lý do, nguyên nhân vì sao anh H1 vẫn không có mặt giải quyết vụ việc theo yêu cầu của Tòa án, qua xác minh anh H1 có nơi đăng ký thường trú và vẫn thường xuyên có mặt tại bản Liên Canh, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, chưa chuyển hộ khẩu hoặc đăng ký nơi thường trú mới. Tuy nhiên sau khi nhận được thông báo về các văn bản tố tụng theo quy định, anh H1 không có mặt cũng như không gửi văn bản ghi ý kiến phản hồi của mình đối với những yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định, nên Tòa án tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu tại phiên tòa: Qua kiểm sát giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc tiến hành thủ tục tố tụng tại phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có mặt tham gia giải quyết vụ việc theo giấy triệu tập, tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn không có mặt để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do, vì vậy cần xem xét áp dụng quy định bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo quy định.
Đề nghị áp dụng các Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; 35; 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, để xét xử:
Về quan hệ hôn nhân cần chấp nhận đơn khởi kiện, cho chị Vi Thị H được ly hôn anh Quang Văn H1.
Chị Vi Thị H và anh Quang Văn H1 không có con chung.
Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản chung và nợ chung, bị đơn không có ý kiến phản hồi đối với phần tài sản và nợ chung theo ý kiến trình bày của nguyên đơn, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Buộc nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Vi Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Quang Văn H1, hai bên không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản chung. Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 luật Hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là tranh chấp “Ly hôn”.
[1.1] Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Quang Văn H1 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú ổn định tại bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
[1.2] Sau khi thụ lý vụ án, qua xác minh nguyên đơn cung cấp đúng địa chỉ của bị đơn, sau khi bên bị đơn được tống đạt các văn bản tố tụng và thông báo cho biết việc nguyên đơn khởi kiện theo quy định nhưng cố tình vắng mặt không tham gia giải quyết vụ án theo quy định, căn cứ hướng dẫn Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xác định thuộc trường hợp bị đơn cố tình vắng mặt nên Tòa án tiếp tục tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Trước khi vụ án được đưa ra xét xử nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng tại phiên tòa là đúng quy định.
[1.3] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và 71 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Bị đơn được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ và được thông báo cho biết việc nguyên đơn khởi kiện nhưng bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự, không có mặt hoặc có văn bản phản hồi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc giải quyết vụ án tại Tòa án, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị H và anh Quang Văn H1 đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 31/01/2023 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn giữa hai bên hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo về điều kiện kết hôn và thủ tục đăng ký theo đúng quy định của pháp luật, nên hôn nhân được công nhận hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng có thời gian chung sống ngắn, nguyên nhân giữa hai bên không có thời gian tìm hiểu kỹ về nhau trước khi kết hôn, do đó không hòa hợp về tính cách, lối sống, không có tiếng nói chung và sự thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nên chị H đã trở về nhà bố mẹ đẻ sống ly thân ngay sau khi tổ chức cưới, hỏi theo phong tục tập quán xong, đến nay hai bên nhận thấy không có tình cảm với nhau để có thể tiếp tục chung sống xây dựng hạnh phúc lâu dài. Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, từ lúc khởi kiện cho đến khi vụ án được giải quyết nguyên đơn giữ nguyên ý kiến đề nghị giải quyết ly hôn, không quay trở lại đoàn tụ. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vi Thị H giải quyết cho ly hôn với bị đơn anh Quang Văn H1.
[4] Về con chung: Chị Vi Thị H và anh Quang Văn H1 không có con chung với nhau.
[5] Tài sản chung và nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị H trình bày giữa hai bên tổ chức cưới, hỏi và chung sống một thời gian ngắn nên không có tài sản chung, không có tranh chấp về phần tài sản, do đó không yêu cầu Toà án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Quang Văn H1 không có mặt tham gia giải quyết vụ án hay có văn bản trình bày ý kiến, quan điểm của mình đối với phần tài sản chung của vợ chồng, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn đề nghị không yêu cầu giải quyết về phần tài sản và nợ chung không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc với bên thứ ba, nên Hội đồng xét xử chấp nhận không xem xét giải quyết. Phần tài sản chung, nợ chung của vợ chồng chưa giải quyết (nếu có), sau này xảy ra tranh chấp các bên có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chị Vi Thị H được ly hôn anh Quang Văn H1.
- Về con chung: Chị Vi Thị H và anh Quang Văn H1 không có con chung.
- Về án phí: Chị Vi Thị H chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0009755 ngày 05/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Hà Văn Đông |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU – TỈNH NGHỆ AN về ly hôn
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị H và anh H1 đăng ký kết hôn theo quy định, sau khi tổ chức cưới theo phong tục chung sống chưa được 02 tháng, nhận thấy có quá nhiều khác biệt, mẫu thuẫn trong cách sống hai bên đã sống ly thân.
