TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày: 17/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Xuân Cầm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Nhân Phái (giáo viên nghỉ hưu) và bà Nguyễn Vũ Như Quỳnh (nguyên là Bí thư Huyện đoàn Phú Lộc).
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hiền, Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trần Quân, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T; tên gọi khác: Cún; giới tính: Nam; sinh ngày: 14/4/2007 tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: Lớp 7/12; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1985 và bà Bùi Thị Ngọc N (đã chết); vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự: Ngày 18/4/2023, bị Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính với hình thức “Cảnh cáo” về hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định số: 119/QĐ-XPHC).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/01/2024 cho đến nay (do quá trình điều tra vi phạm nghĩa vụ cam đoan và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú); có mặt.
2. Trần Xuân T1; tên gọi khác: Xà; giới tính: Nam; sinh ngày: 01/7/2007 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: tổ dân phố E, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: Lớp 5/12; con ông Trần Xuân T2, sinh năm 1972 và bà Lương Thị P, sinh năm 1972; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Có 02 tiền sự: Ngày 23/6/2023, bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính với hình thức “Cảnh cáo” về hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định số 124/QĐ-XPHC); ngày 14/02/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G với thời hạn 01 năm 03 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản (Quyết định số 04/2022/QĐ-TA), ngày 18/4/2023, bị cáo chấp hành xong quyết định.
Về nhân thân: Ngày 26/7/2021, bị Công an thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính hình thức “Cảnh cáo” về hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định số 149/QĐ-XPHC).
Ngày 13/8/2021, bị Công an thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính hình thức “Cảnh cáo” về hành vi Trộm cắp tài sản (Quyết định số 152/QĐ-XPHC).
Ngày 30/8/2021, bị Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 06 tháng do 03 lần có hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định số 93/QĐ-UBND).
Ngày 09/11/2021, bị Công an thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính hình thức “Cảnh cáo” về hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định số 157/QĐ-XPHC).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/11/2023 cho đến nay; có mặt.
- - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn T: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Xuân T1: Ông Trần Xuân T2, sinh năm 1972 và bà Lương Thị P, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Bà Phạm Thị Thùy T3, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T; có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Trần Xuân T1: Bà Trần Thị Quỳnh P1, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T; có mặt.
- - Bị hại: Anh Võ Đình H, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Trần Văn P2, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- + Anh Phan Văn P3, sinh năm 2005; địa chỉ: Tổ dân phố I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sau khi chơi game, do cần tiền tiêu xài nên khoảng 00 giờ 10 phút ngày 11/9/2023, Nguyễn Văn Trủ Trần Xuân T1 đi đến nhà anh Võ Đình H ở tại tổ dân phố C, thị trấn P, huyện P để trộm cắp tài sản thì T1 đồng ý. Khi đến trước cửa nhà anh H, T nói T1 đứng ngoài cổng cảnh giới, còn T đi vào nhà anh H theo phía cửa hông, T mở cửa đi vào nhà lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Realme C21y có gắn sim số 0869047557 đang để tại bàn học. Sau đó, T đi ra đưa chiếc điện thoại cho T1 cất giữ, T1 tháo sim điện thoại ra vứt bên lề đường rồi cả hai đi về nhà. Chiều ngày 12/9/2023, T1 đưa chiếc điện thoại trộm cắp nêu trên nhờ anh Phan Văn P3 đi bán giúp, P3 đến cửa hàng điện thoại Pháp M bán cho anh Trần Văn P2 với số tiền 700.000 đồng. Số tiền có được T1, T và anh P3 sử dụng tiêu xài chung hết.
Quá trình điều tra đã thu giữ được chiếc điện thoại di động hiệu Realme C21y nêu trên. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 31 ngày 25/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P xác định tại thời điểm chiếm đoạt điện thoại di động hiệu Realme C21y có trị giá 1.400.000 đồng, sim điện thoại trị giá 50.000 đồng; tổng trị giá tài sản là 1.450.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại chiếc điện thoại di động hiệu Realme C21y cho chủ sở hữu là anh Võ Đình H. Anh H không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác. Anh Trần Văn P2 không yêu cầu các bị cáo và anh P3 trả lại số tiền 700.000 đồng mà anh P2 đã bỏ ra mua máy điện thoại.
Tại Cáo trạng số: 13/CT-VKSPL ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Xuân T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung của bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, Điều 50, 54, 58, 91, 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T và Trần Xuân T1 mỗi bị cáo từ 03 tháng tù đến 04 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Không xem xét; về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Ý kiến và lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 100 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Xuân T1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 100 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Xuân T1 06 tháng cải tạo không giam giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Phú Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]Xét hành vi của các bị cáo thấy rằng: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 11/9/2023, tại nhà của anh Võ Đình H ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Xuân T1 đã lén lút chiếm đoạt của anh H chiếc điện thoại di động hiệu Realme C21y, gắn sim số 0869047557, có tổng trị giá 1.450.000 đồng.
Mặc dù trị giá tài sản các bị cáo trộm cắp là 1.450.000 đồng, nhưng các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Xuân T1 đều đang có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nên đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3]Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1]Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, trong đó T là người khởi xướng và thực hiện hành vi trộm cắp, còn T1 là người giúp sức tích cực, cảnh giới và tẩu tán tài sản trộm cắp, lấy tiền để cùng nhau tiêu xài.
[3.2]Các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Xuân T1 không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3.3]Các bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo; tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại có đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.4]Về nhân thân: Đối với bị cáo Nguyễn Văn T đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (đang tiền sự), nhưng tiếp tục thực hiện trộm cắp tài sản của anh Võ Đình H.
Quá trình điều tra bị cáo T còn bỏ trốn, vi phạm nghĩa vụ cam đoan và vi phạm lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, gây khó khăn cho công tác điều tra.
Đối với bị cáo Trần Xuân T1 đang có 02 tiền sự và nhân thân rất xấu, nhiều lần bị cơ quan Công an huyện P xử phạt hành chính, bị Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn, bị Toà án nhân dân huyện Phú Lộc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đều do có hành vi trộm cắp tài sản.
[4]Xét loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù là người chưa thành niên (đến thời điểm phạm tội các bị cáo đều trên 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) nhưng các bị cáo đã có nhân thân xấu, không tu dưỡng, rèn luyện, tìm kiếm nghề nghiệp để học tập, làm việc, phát triển bản thân, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Mặc dù đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng để có tiền tiêu xài, các bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, thể hiện thái độ rất xem thường pháp luật và quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt đối với hai bị cáo ngang nhau là phù hợp, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo là người dưới 18 tuổi nên cần xem xét đến nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội khi lượng hình và áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử dưới khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp để tạo cơ hội cho các bị cáo sớm trở về với gia đình và hoà nhập xã hội.
[5]Về hình phạt bổ sụng: Do các bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]Đối với anh Phan Văn P3 và Trần Văn P2 khi bán và mua điện thoại không biết điện thoại là do các bị cáo trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
[7]Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại chiếc điện thoại di động hiệu cho chủ sở hữu là anh Võ Đình H. Anh H không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Trần Văn P2 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Xuân T1 và anh Phan Văn P3 trả lại số tiền 700.000 đồng mà anh P2 đã bỏ ra mua máy điện thoại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Xuân T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T (tức C1) và Trần Xuân T1 (tức X) phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, Điều 54, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (Cún) 04 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (28/01/2024).
Xử phạt bị cáo Trần Xuân T1 (Xà) 04 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử buộc các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Xuân T1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Đinh Xuân Cầm |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BAN AN TINH - THUAN
