|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 22/2024/HS-ST
Ngày: 17-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Ông Trần Văn Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân
huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham
gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1994 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị Â; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Nguyễn Việt L, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 26/8/2023, Nguyễn Việt L đi đám giỗ ở nhà của Lê Thanh G và uống rượu cùng Nguyễn Văn Đ, uống đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì nghĩ, Đ có nhắc đến việc G và Đ đi đá bóng có xảy ra mâu thuẩn với bị can Nguyễn Nhựt T và bị T đánh. Khi nghe vậy, L rủ Đ đến nhà
Trường để nói chuyện. Cả hai cùng kéo đến nhà Nguyễn Nhựt T ở ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì L kêu “Trường ơi” T bước ra sân thì bị Đ dùng tay đánh vào mặt T 01 cái rồi bỏ chạy, lúc này T chạy vào trong nhà lấy 01 con dao (loại dao mũi bằng dài khoảng 37cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 25,7cm rộng 6,2cm, cán gỗ, rồi chạy ra chém nhiều cái vào người Nguyễn Việt L làm trúng đầu, ngực, khuỷu tay phải và ngón tay phải nên L cũng bỏ chạy, cùng lúc này có chị Nguyễn Thị D là chị của T chạy lại giật lấy cây dao đem cất. Sau đó, Nguyễn Việt L được người thân đưa đến Trung tâm y tế huyện A cấp cứu và chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh K để điều trị thương tích, đến ngày 06/9/2023 thì được xuất viện. Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Nhựt T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Ngày 15/9/2023, Nguyễn Việt L có đơn yêu cầu gửi đến Cơ quan điều tra yêu cầu xử lý hình sự Nguyễn Nhựt T và giám định thương tích. Ngày 18/10/2023, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 107 Trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh K giám định thương tích và vật gây thương tích đối với Nguyễn Việt L.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 830/KLTTCT-PY ngày 30/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận:
1. Các kết quả chính :
- Kết quả khám giám định:
- + Sẹo phần mềm vùng đỉnh - trán phải, ngực phải và cẳng tay phải.
- + Vết thương vùng khuỷu phải, gãy mỏm khuỷu đã được phẩu thuật kết hợp xương. Hiện tại, còn cứng khớp khuỷu phải.
- + Vết thương vùng ngón I bàn tay phải, gây đứt (mẻ) xương đốt giữa ngón I.
- Kết quả cận lâm sàng:
- + Xquang sọ thẳng, nghiêng; Cẳng tay phải thẳng, nghiêng và ngực thẳng: Không nhìn thấy ảnh bất thường.
- + Xquang khuỷu phải thẳng, nghiêng: Gãy mỏm khuỷu, còn dụng cụ kết hợp xương.
- + Xquang bàn tay phải thẳng, nghiêng: Đứt (mẻ) xương đốt giữa ngón I.
2. Kết luận:
2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Việt L tại thời điểm giám định là: 22% (Hai mươi hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
2.2. Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên tại thời điểm giám định ở:
- - Vùng trán - đỉnh phải là: 03% (Ba phần trăm).
- - Vùng ngực phải là: 01% (Một phần trăm).
- - Vùng khuỷu phải là: 16,7% (Mười sáu phẩy bảy phần trăm).
- - Vùng cẳng tay phải là: 01% (Một phần trăm).
- - Vùng ngón I bàn tay phải là: 1,99% (Một phẩy chín mươi chín phần trăm).
2.3. Vật gây thương tích: Vật có cạnh sắc.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (Một) con dao có chiều dài 37cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 25,7cm, lưỡi dao rộng nhất 6,2cm, cán gỗ dài 11,3cm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị can Nguyễn Nhựt T đã bồi thường các khoản chi phí điều trị thương tích, với tổng số tiền là 30.000.000 đồng và bị hại Nguyễn Việt L đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can Trường.
Tại Cáo trạng số 23/CT-VKS-AM ngày 27-02-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Nhựt Trường về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Nhựt T phạm tội cố ý gây thương tích và đề nghị: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt T từ 06 đến 09 tháng tù giam; về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét; vật chứng tịch thu tiêu hủy.
- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng truy tố. Về trách nhiệm dân sự đã bồi thường xong cho bị hại 30.000.000 đồng. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi về hành vi của bản thân đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đang nuôi mẹ già và người chị bị bệnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành
vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Thấy họ đã có lời khai rõ ràng, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 20 giờ, ngày 26/8/2023 tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang do bực tức việc anh Nguyễn Việt L và anh Nguyễn Văn Đ đến nhà tìm và bị Đ đánh trúng vào mặt nên bị cáo Nguyễn Nhựt T chạy vào trong nhà lấy 01 con dao (loại dao mũi bằng dài khoảng 37cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 25,7cm, rộng 6,2cm, cán gỗ) chạy ra chém nhiều cái trúng vào vùng trán đỉnh phải, ngực phải, khuỷa tay phải, cẳng tay phải, ngón I bàn tay phải của anh L, hậu quả làm cho anh L bị thương. Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 830/KLTTCT-PY ngày 30/10/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh K kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh L do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 22%, vật gây thương tích là vật sắc có cạnh.
[2.2] Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được việc dùng cây dao chém trúng vào người khác sẽ gây thương tích nhưng bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; công cụ bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại là cây dao có chiều dài 37cm, phần lưỡi dao bằng kim loại, dài 25,7cm, phần cán gỗ dài 11,3cm, lưỡi dao rộng nhất 62cm, được xác định là hung khí nguy hiểm, đây là tình tiết định tội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do bị hại bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 22% nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tại điểm a khoản 1 Điều này. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Nhựt T phạm tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại. Sức khỏe là vốn quý giá của con người, không ai được quyền xâm phạm một cách trái pháp luật, chỉ
vì tức giận mà bị cáo đã lựa chọn cách xử sự không phù hợp nên đã dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo không chỉ gây tổn thương sức khỏe cho bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, HĐXX cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe bị cáo và giáo dục mọi người có ý thức và lựa chọn cách xử sự phù hợp pháp luật khi có mâu thuẫn xảy ra.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, HĐXX xác định bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy bị cáo phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù, gây mất an ninh trật tự cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm răn đe và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt thể hiện trước khi phạm tội chưa từng vi phạm pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo đã bồi thường đầy đủ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại nên việc không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tập trung không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự. HĐXX thống nhất áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; tạo điều kiện cho bị cáo chăm sóc mẹ già và người chị bị bệnh.
[4] Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường chi phí điều trị thương tích và các khoản khác cho bị hại tổng cộng 30.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: 01 (Một) cây dao có chiều dài 37cm, phần lưỡi dao bằng kim loại, dài 25,7cm, phần cán gỗ dài 11,3cm, lưỡi dao rộng nhất 62cm là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Đối với Nguyễn Văn Đ có hành vi đánh bị cáo Nguyễn Nhựt T đã bị Công an huyện A ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 27/QĐ-XPHC ngày 06/02/2024 là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhựt T phạm tội Cố ý gây thương tích.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt T 02 (hai) năm tù về tội Cố ý gây thương tích, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 17-4-2024).
Giao cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2- Về trách nhiệm dân sự, không xem xét.
3- Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) cây dao có chiều dài 37cm, phần lưỡi dao bằng kim loại, dài 25,7cm, phần cán gỗ dài 11,3cm, lưỡi dao rộng nhất 62cm (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện A đang quản lý theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 10/QĐ-VKS-AM ngày 27-02-2024 của VKSND huyện An Minh).
4- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Bị cáo Nguyễn Nhựt T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17-4-2024). Bị hại vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nhựt T phạm tội Cố ý gây thương tích
