Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỐNG NHẤT

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/DS-ST

Ngày: 16 - 7 - 2024

V/v: "Tranh chấp

Hợp đồng tín dụng".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Trung

2. Bà Phạm Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2023, về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 297/2024/QĐST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.

    Địa chỉ: H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

    + Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

    + Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy H. Địa chỉ: Số B, QL1A, KP1, phường T, Tp., tỉnh Đồng Nai. (Văn bản ủy quyền số 247/2023/UQ-VPB ngày 16/11/2023).

  2. Bị đơn: Bà Bùi Thị Thùy A, sinh năm 1988.

    Địa chỉ: Số E, tổ A, KP P, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

    + Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1984.

    Địa chỉ: Số A, tổ C, KP T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Văn bản ủy quyền ngày 03/7/2024).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tóm tắt khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V. do ông H trình bày:

Vào ngày 18/5/2022, Ngân hàng TMCP V (viết tắt là Ngân hàng) và bà Bùi Thị Thùy A (viết tắt là bà A) ký kết Hợp đồng cho vay số LN2204195606382 ngày 18/05/2022 để cấp vốn vay cho bà A với số tiền vay: 812.000.000đồng (Tám trăm mười hai triệu đồng), thời hạn vay kể từ ngày 18/5/2022 đến 18/5/2026, lãi suất cố định 12 tháng đầu 10.25%, mục đích vay: Mua xe.

Tài sản thế chấp cho khoản vay trên là 01 xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, số loại FL8JTSA, đã qua sử dụng, sản xuất năm 2015, số khung RNJFL8JTSFXX17697 số máy J08EUF17822, biển kiểm soát 60H-069.48. Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60042444 do Phòng C công an tỉnh Đ cấp ngày 10/05/2022 mang tên bà Bùi Thị Thùy A theo Hợp đồng thế chấp số LN2204195606382 ngày 18/05/2022 giữa V với bà Bùi Thị Thùy A. Đăng ký giao dịch bảo đảm: ngày 18/5/2022.

Quá trình thực hiện hợp đồng bà A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng từ ngày 15/09/2022 bà A không đóng lãi. Đến tháng 3/2023 bà A có đóng gốc và lãi được 01 tháng rồi không đóng lãi nữa. Tính đến ngày 10/11/2023, bà A chỉ đóng được tiền nợ gốc là 106.678.869đồng, tiền lãi là 28.895.522đồng rồi không trả nợ nữa.

Ngân hàng đã gửi thông báo, yêu cầu khách hàng thanh toán nhưng khách hàng vẫn không thanh toán nên Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Thống Nhất giải quyết:

  1. Buộc bà A phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền 940.227.706đồng (Chín trăm bốn mươi triệu, hai trăm hai mươi bảy nghìn, bảy trăm lẻ sáu đồng). Trong đó nợ gốc là 705.321.131 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 16/7/2024 là 234.906.575 đồng. Ngoài ra, bà A còn phải thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại Hợp đồng vay kể từ thời ngày 17/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay.
  2. Để đảm bảo thanh toán nợ vay trong trường hợp khách hàng không thanh toán, kính đề nghị Tòa án tuyên tái sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LN2204195606382 ngày 18/05/2022 giữa ngân hàng với bà Bùi Thị Thùy A sẽ được phát mãi thi hành án để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể: 01 xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, số loại FL8JTSA, đã qua sử dụng, sản xuất năm 2015, số khung RNJFL8JTSFXX17697, số máy J08EUF17822, biển kiểm soát 60H-069.48. Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60042444 do Phòng C công an tỉnh Đ cấp ngày 10/05/2022 mang tên bà Bùi Thị Thùy A.
  3. Trường hợp tài sản thế chấp sau khi phát mãi không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, bà Bùi Thị Thùy A có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay đồng thời chịu tất cả các khoản chi phí phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại bản tự khai của bị đơn bà Bùi Thị Thùy A và ý kiến trình bày của đại diện theo ủy quyền của bà A là ông T tại phiên toà:

A thừa nhận vào ngày 18/5/2022 có vay số tiền 812.000.000đồng (Tám trăm mười hai triệu đồng) của Ngân hàng tại Hợp đồng cho vay số LN2204195606382 mục đích giải ngân: mua 01 xe ô tô nhãn hiệu HINO, biển kiểm soát 60H - 069.48. Thời hạn vay: 48 tháng, từ ngày 18/5/2022 đến 18/5/2026; lãi suất cố định 12 tháng đầu 10.25%. Quá trình vay bà A đã trả được tiền nợ gốc là 106.678.869đồng, tiền lãi là 28.895.522đồng. Nhưng sau đó khoảng 40 ngày sau khi ký Hợp đồng Ngân hàng mới cấp Giấy đi đường cho bà nên dẫn đến xe không lưu thông được do vậy việc làm ăn của bà gặp nhiều khó khăn không trả được nợ.

Để đảm bảo khoản vay bà Bùi Thị Thùy A đã thế chấp 01 (một) ô tô nhãn hiệu HINO, số loại FL8JTSA, đã qua sử dụng, sản xuất năm 2015, số khung RNJFL8JTSFXX17697, số máy J08EUF17822, biển kiểm soát 60H-069.48. Được Phòng C công an tỉnh Đ Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60042444 ngày 10/05/2022 cho bà Bùi Thị Thùy A theo Hợp đồng thế chấp số LN2204195606382 ngày 18/05/2022, đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 18/5/2022.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà A phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền 940.227.706đồng (Chín trăm bốn mươi triệu, hai trăm hai mươi bảy nghìn, bảy trăm lẻ sáu đồng). Trong đó nợ gốc là 705.321.131 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 16/7/2024 là 234.906.575 đồng. Ngoài ra, bà A còn phải thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại Hợp đồng kể từ ngày 11/11/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay; Ngân hàng được phát mãi tài sản thế chấp 01 xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, số loại FL8JTSA, đã qua sử dụng, sản xuất năm 2015, số khung RNJFL8JTSFXX17697, số máy J08EUF17822, biển kiểm soát 60H-069.48 theo Hợp đồng thế chấp số LN2204195606382 ngày 18/05/2022 để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán; Trường hợp tài sản thế chấp sau khi phát mãi không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, bà Bùi Thị Thùy A có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay đồng thời chịu tất cả các khoản chi phí phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án thì bà A không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Lý do bà không đồng ý trả nợ là Ngân hàng không thực theo cam kết tại Hợp đồng tín dụng về việc cấp Giấy đi đường để người vay vốn được lưu thông trên đường.

Tại phiên toà ông T cho rằng việc Ngân hàng không cấp Giấy đi đường làm thiệt hại cho bà A nhiều hơn khoản vay của Ngân hàng. Lý do thiệt hại là do xe ô tô tải có biển kiểm soát 60H-069.48 không được lưu thông vì thiếu Giấy đi đường. Tuy nhiên, ông T thừa nhận đến phiên tòa hôm nay bà A vẫn chưa nộp đơn và cung cấp chứng cứ để yêu cầu Ngân hàng bồi thường thiệt hại. Ông T trình bày sau phiên toà hôm nay bà A sẽ nộp đơn khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết bằng một vụ án khác.

Trên cơ sở quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố; Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp nhưng không được, vì bị đơn không đưa đến nơi cư trú để Tòa án xem xét, thẩm định. Bị đơn cho biết, tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, biển kiểm soát 60H-069.48 hiện đang phục vụ hoạt động kinh doanh, vẫn hoạt động bình thường, tình trạng, đặc điểm kỹ thuật không thay đổi so với thời điểm thế chấp. Nguyên đơn đề nghị Tòa án không tiếp tục xem xét thẩm định lần 2, đề nghị bà A bảo quản, sử dụng tài sản thế chấp đúng mục đích như hợp đồng thế chấp đã ký kết.

* Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn là bà Bùi Thị Thùy A phải trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền là gốc là 705.321.131 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị Thùy A trả lại số tiền đã vay theo Hợp đồng cho vay số LN2204195606382 ngày 18/5/2022 mà các bên đã ký nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”; Ngân hàng TMCP V là nguyên đơn; bà Bùi Thị Thùy A là bị đơn trong vụ án.
  2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà Bùi Thị Thùy A có đăng ký hộ khẩu và cư trú tại số E, tổ A, KP P, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  3. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:
    1. Đối với số tiền gốc: Tại biên bản lấy lời khai bà A đã thừa nhận có vay số tiền 812.000.000đồng (Tám trăm mười hai triệu đồng) của Ngân hàng TMCP V theo Hợp đồng cho vay số LN2204195606382 ngày 18/5/2022. Mục đích giải ngân: Mua xe; Thời hạn vay: 48 tháng, từ ngày 18/5/2022 đến 18/5/2026; lãi suất cố định 12 tháng đầu 10.25%. Sau khi vay vốn, bà A chỉ trả lãi được 04 tháng đầu rồi không đóng nữa. Tính đến 26/3/2023 bà A chỉ thanh toán tiền gốc là 106.678.869đồng, tiền lãi là 28.895.522đồng rồi bà A không thanh toán cho ngân hàng nữa. Do vậy, căn cứ vào Hợp đồng cho vay số LN2204195606382 ngày 18/5/2022 và thừa nhận của bà A đã có căn cứ xác định bà A vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
    2. Đối với yêu cầu lãi suất: Trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả lãi theo mức lãi suất cố định 12 tháng đầu 10.25, tổng lãi ngân hàng yêu cầu bị đơn trả từ khi vi phạm nghĩa vụ thanh toán đến khi xét xử sơ thẩm là 234.906.575đồng. Yêu cầu của ngân hàng đặt ra các bên đều thống nhất và không có ý kiến gì nên chấp nhận.
    3. Đối với biện pháp bảo đảm: Tài sản thế chấp các bên thỏa thuận thế chấp là 01 (một) ô tô nhãn hiệu HINO, số loại FL8JTSA, đã qua sử dụng, sản xuất năm 2015, số khung RNJFL8JTSFXX17697, số máy J08EUF17822, biển kiểm soát 60H-069.48. Được Phòng C Công an tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60042444 ngày 10/05/2022 mang tên bà Bùi Thị Thùy A theo Hợp đồng thế chấp số LN2204195606382 ngày 18/05/2022.

    Xét thấy, Hợp đồng thế chấp số LN2204195606382 ngày 18/05/2022 giữa Ngân hàng và bà A được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, không bị lừa dối; nội dung, hình thức hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật và được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 18/5/2022 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản TP. trình tự, thủ tục thế chấp đúng quy định tại các Điều 298, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 Bộ luật dân sự; Luật các tổ chức tín dụng; Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực. Vì vậy, nếu bà A không trả được nợ thì Ngân hàng được yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.

    1. Đối với ý kiến của bà A thừa nhận có vay nợ của Ngân hàng nhưng lý do bà không thực hiện nghĩa vụ trả lãi là vì Ngân hàng không thực theo cam kết tại Hợp đồng tín dụng về việc cấp Giấy đi đường để xe ô tô có biển kiểm soát 60H-069.48 không lưu thông được dẫn đến bà bị thiệt hại nhiều hơn khoản vay của Ngân hàng. HĐXX xét xử nhận thấy: Căn cứ vào khoản 6 Hợp đồng cho vay số LN2204195606382 ngày 18/5/2022 quy định bà A bắt đầu đóng gốc và lãi từ ngày 15 hàng tháng nhưng cứ vào bảng sao kê tài khoản trả tiền vay của bà A tại Ngân hàng và đại diện bà A thừa nhận tại phiên toà thì bà A bắt đầu trả gốc và lãi vào ngày 17/6/2022, 18/7/2022, 16/8/2022, 24/9/2022. Đến ngày 26/3/2023 bà A đóng thêm khoản gốc, lãi là 39.000.000đồng rồi không đóng tiếp khoản gốc và lãi nào. Như vậy, kể từ thời điểm bà A bắt đầu thực hiện Hợp đồng tín dụng bà A đã vi phạm thời hạn trả lãi theo thỏa thuận của các bên nên Ngân hàng không tiếp tục cấp Giấy đi đường là phù hợp và không vi phạm. Quá trình giải quyết vụ án bà A đã được Toà án thông báo và ấn định thời gian nộp đơn yêu cầu Ngân hàng bồi thường và cung cấp chứng cứ nhưng tại phiên toà ông T thừa nhận hiện chưa nộp đơn yêu cầu. Do vậy, căn cứ vào Điều 209 Bộ luật tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét. Tại phiên toà sau khi được Hội đồng giải thích, ông Trung đại diện bà A trình bày sau phiên toà hôm nay bà A sẽ nộp đơn khởi kiện để yêu cầu Ngân hàng bồi thường thiệt hại vì không thực hiện đúng nghĩa vụ theo Hợp đồng các bên đã thoả thuận bằng một vụ án khác.

    Từ sự nhận định trên, căn cứ vào các Điều 280, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V. Thịnh vượng.

    1. Về án phí DSST: Bà Bùi Thị Thùy A phải chịu 40.206.831đồng án phí theo quy định; Ngân hàng TMCP V được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp.
    2. Về chi phí tố tụng: Bà A phải chịu chi phí xem xét thẩm định tài sản thế chấp là 3.000.000đồng. Hiện Ngân hàng đã tạm ứng khoản tiền trên nên bà A có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng.
    3. Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 39, Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 17, Điều 35, khoản 4 Điều 422, Điều 428, Điều 463. Điều 470 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.

  1. Buộc bà Bùi Thị Thùy A phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền 940.227.706đồng (Chín trăm bốn mươi triệu, hai trăm hai mươi bảy nghìn, bảy trăm lẻ sáu đồng). Trong đó nợ gốc là 705.321.131 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 16/7/2024 là 234.906.575 đồng
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Trong trường hợp bà Bùi Thị Thùy A không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng thương mại cổ phần V được quyền phát mãi tài sản thế chấp là 01 (một) ô tô nhãn hiệu HINO, số khung RNJFL8JTSFXX17697, số máy J08EUF17822, biển kiểm soát 60H-069.48. Được Phòng C Công an tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60042444 ngày 10/05/2022 mang tên bà Bùi Thị Thùy A theo Hợp đồng thế chấp số LN2204195606382 ngày 18/05/2022.
  4. Trường hợp tài sản thế chấp sau khi phát mãi không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, bà Bùi Thị Thùy A có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay.
  5. Về chi phí tố tụng: Bà Bùi Thị Thùy A phải chịu 3.000.000đồng (Ba triệu đồng). Hiện Ngân hàng đã tạm ứng chi phí tố tụng. Vì vậy bà A có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
  6. Về án phí DSST: Bà Bùi Thị Thùy A phải chịu 40.206.831đồng (Bốn mươi triệu, hai trăm lẻ sáu nghìn, tám trăm ba mươi mốt đồng) án phí. Ngân hàng TMCP V được nhận lại số tiền 18.712.413đồng (Mười tám triệu, bảy trăm mười hai nghìn, bốn trăm mười ba đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0007511 ngày 05/12/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
  7. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP V, bà Bùi Thị Thùy A được kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án;

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất
  • - Lưu (HS); VP; Tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Xuân

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 22/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HDTD
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger