TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày 16/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khỏe
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Văn Vạn
2. Bà Lê Thị Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Diễm Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Lưu Thị Mỹ T, sinh ngày 18/5/1977; giới tính: nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Cha: Lưu Văn S, sinh năm 1943 (đã chết); Mẹ: Võ Thị G, sinh năm: 1945; Chồng: Nguyễn Văn N, sinh năm 1978, nghề nghiệp: Làm vườn; Bị cáo có 01 con: Nguyễn Quốc T1, sinh năm 2010; A, chị, em ruột có 07 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị khởi tố điều tra tại ngoại (có mặt).
- Họ và tên: Huỳnh Thị Tuyết H, sinh ngày 17/10/1971; giới tính: nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: Khu phố C, phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Cha: Huỳnh V, sinh năm 1935 (đã chết); Mẹ: Cao Thị S1, sinh năm: 1936; Chồng: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1969; Bị cáo có 01 con: Nguyễn H2, sinh năm 2001; A, chị, em ruột có 06 người, bị cáo là con lớn thứ ba trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị khởi tố điều tra tại ngoại (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Tuyết H3, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Ông Ngô Tấn Đ, sinh năm 1966 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Ông Đinh Long V1, sinh năm 1963 (có mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Ông Cao Văn B, sinh năm 1968 (có mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Ông Ngô Phước H4, sinh năm 1973 (có mặt).
Địa chỉ: ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Ông Lý Kim T2, sinh năm 1972 (có mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1963 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lưu Thị Mỹ T và Huỳnh Thị Tuyết H là bạn bè, khoảng đầu tháng 01 năm 2024, H rủ T tham gia đánh bạc với hình thức ghi bán số đề thắng thua bằng tiền với người chơi, rồi giao phơi đề qua điện thoại cho H để hưởng tiền hoa hồng. Cách thức chơi như sau:
- Hình thức đặt cược, người chơi chọn số có hai hoặc ba chữ số tự nhiên từ 0 đến 9 được ghép lại với nhau, số tiền người chơi bỏ ra mua 01 lô số của 01 đài mở thưởng xổ số kiến thiết trong ngày (gồm 18 lô số) tương ứng 1.000 đồng sẽ trả T số tiền 14.000 đồng; còn đặt 02 số của giải tám và 02 số cuối của giải đặc biệt T tính tiền trên số tiền người chơi đặt cược (số đầu – đuôi), khi người chơi tham gia đặt cược ở nhiều đài xổ số thì số tiền đặt cược sẽ được nhân lên tương ứng. Thảo ghi bán số đề qua tin nhắn điện thoại hoặc người chơi trực tiếp đến nhà T để mua số, sau đó T ghi số đã mua vào mảnh giấy giao cho người chơi để tính tiền thắng thua, người chơi nhắn tin mua số qua điện thoại T trả lời nhận đặt cược bằng tin nhắn có nội dung các số đã đặt cược kèm theo chữ “ok”.
Các thức tính tiền thắng - thua: Đối chiếu giữa số người chơi đặt cược với hai hoặc ba chữ số cuối của kết quả mở thưởng của đài xổ số mà người chơi tham gia đặt, nếu kết quả lô 02 số cuối trùng với lô số đã đặt cược thì sẽ thắng với số tiền 70.000 đồng cho 01 lô số hai chữ đặt cược số tiền lô 1.000 đồng và thắng 70.000 đồng nếu trúng đặt cược 1.000 đồng 02 số của giải tám hoặc giải đặc biệt. Nếu người mua số đề đặt cược với số tiền 1.000 đồng cho ba chữ số (xỉu chủ), khi trúng thì thắng được số tiền 600.000 đồng. Khi giao phơi thì H cho T hưởng hoa hồng trong tổng số tiền phơi.
Trong ngày 16/01/2024, Lưu Thị Mỹ T đã nhận đặt cược của các đài xổ số kiến thiết miền nam, gồm: Bến Tre, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bạc Liêu, cụ thể như sau:
- Phạm Thị Tuyết H3, sinh năm 1973, địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang đặt cược bao lô 03 đài Bến Tre, Vũng Tàu, Bạc Liêu: số 31 và số 71 với số tiền 3.000 đồng/ 01 lô. Tổng số tiền H3 đặt cược là 252.000 đồng. Kết quả có 01 lô xổ số 31 Hằng thắng số tiền 210.000 đồng. Tổng số tiền H3 đánh bạc là 462.000 đồng.
- Ngô Tấn Đ, sinh năm 1966, địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang đặt cược bao lô đài Bến Tre: số 48 và số 548 với số tiền 5.000 đồng/01 lô số. Tổng số tiền Định đặt cược là 140.000 đồng. Kết quả có 02 lô xổ số 48, Đ thắng số tiền 700.000 đồng. Tổng số tiền Định đánh bạc là 840.000 đồng.
- Đinh Long V1, sinh năm 1963, địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang đặt cược bao lô đài Bến Tre: số 62 với số tiền 2000 đồng và số 40 với số tiền 3000 đồng và số 62 lô giải tám với số tiền 70.000 đồng, số 62 lô giải đặc biệt với số tiền 40.000 đồng; số 40 lô giải tám với số tiền 50.000 đồng, số 40 lô giải đặc biệt với tiền 100.000 đồng. Tổng số tiền V1 đặt cược là 330.000 đồng. Kết quả có 01 lô xổ số 62 nên V1 thắng số tiền 140.000 đồng. Tổng số tiền V1 đánh bạc là 470.000 đồng.
- Cao Văn B, sinh năm 1968, địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang đặt cược bao lô đài Bến Tre: số 08, số 48, số H với số tiền 5000 đồng/số; số 47, số D, số B, số B, số 321 với mức cược 5000 đồng/số; cặp số 08 và số 48, cặp số 08 và số 88, cặp số 48 và số 88 với số tiền 2000 đồng/cặp số. Tổng số tiền Bên đặt cược là 740.000 đồng. Kết quả có 02 lô xổ số 48 và 01 lô xổ số 42 nên Bên thắng số tiền 1.050.000 đồng. Tổng số tiền B1 đánh bạc là 1.790.000.
- Ngô Phước H4, sinh năm 1973, địa chỉ: Ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang đặt cược bao lô đài Bến Tre: số 08, số 04, số E với số tiền 5000 đồng/ số; cặp số 08 và số 04, cặp số 08 và số 51, cặp số 04 và số 51 với số tiền 1000 đồng/cặp số. Tổng số tiền H4 đặt cược là 288.000 đồng. Kết quả Hữu thua. Số tiền H4 đánh bạc là 288.000 đồng.
- Lý Kim T2 sinh năm 1972, địa chỉ: Ấp M, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang đặt cược bao lô đài Bến Tre: số 75 với số tiền 30.000 đồng và số 775 với số tiền 100.000 đồng. Tổng số tiền T2 đặt cược là 1.755.000 đồng. (T thoả thuận với T2 mua số đề với số tiền 1.000 đồng, bao lô một đài thì chỉ phải trả 13.500 đồng). Kết quả T2 thua.
- Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1963, địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang đặt cược bao lô 03 đài Bến Tre, Vũng Tàu, B với số tiền 3000 đồng. Tổng số tiền Đ1 đặt cược là 126.000 đồng. Kết quả Đ1 thua.
Tất cả các lô số T đã nhận đặt cược nêu trên với số tiền 3.631.000 đồng, T sử dụng điện thoại hiệu N1 màu đen lắp sim số 0359003169 của T sử dụng để nhắn tin chuyển cho Huỳnh Thị Tuyết H qua số điện thoại 0394.879.xxx, thoả thuận số tiền đặt cược bao lô 1.000 đồng, T trả H số tiền 13.000 đồng, số tiền mua đầu đuôi của giải tám và giải đặt biệt đặt cược 10.000 đồng, T trả H số tiền 7.500 đồng, để hưởng hoa hồng số tiền 186.000 đồng.
Ngoài ra, kết quả điều tra xác định Lưu Thị Mỹ T tham gia đặt cược thắng thua với Huỳnh Thị Tuyết H, cụ thể: T đặt cược bao lô 03 đài Bến Tre, Vũng Tàu, Bạc Liêu số 95 với số tiền 10.000 đồng; bao lô đài Bến T3 số 273 với số tiền 2.000 đồng và số 73 với số tiền 2.000 đồng; số 454, số 567 lô giải bảy và lô giải đặc biệt với số tiền 5.000 đồng, tổng số tiền T đặt cược là 462.000 đồng. Kết quả T thua.
Đến 17 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, Công an huyện C tiến hành kiểm tra nhà Lưu Thị Mỹ T phát hiện hành vi đánh bạc của T vào thu giữ các vật chứng có liên quan. Đến ngày 19/01/2024 Huỳnh Thị Tuyết H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đầu thú.
Quá trình điều tra, thu thập kết quả mở thưởng của các đài sổ xố Bến Tre, Bạc Liêu, Bà Rịa – Vũng Tàu cung cấp, bị can Lưu Thị Mỹ T đã tự đối chiếu kết quả đặt cược và kết quả thắng cược, xác định, tổng số tiền nhận đặt cược: 3.631.000 đồng; tổng số tiền những người đặt được đã thắng: 2.100.000 đồng; số tiền T đánh bạc với Huỳnh Thị Tuyết H là 462.000 đồng. Tổng số tiền T đánh bạc là 6.193.000 đồng.
Huỳnh Thị Tuyết H đã tự đối chiếu kết quả đặt cược và kết quả thắng cược, xác định tổng số tiền nhận đặt cược: 3.907.000 đồng; tổng số tiền những người đặt cược đã thắng: 2.100.000 đồng. Tổng số tiền H đánh bạc là 6.007.000 đồng.
Vật chứng thu giữ, gồm:
- Tiền Việt Nam đồng: 8.410.000 đồng.
- 01 quyển tập vở ô li bị cắt, xé một phần; 06 mảnh giấy có ghi chữ, số và 08 mảnh giấy trắng có chữ ký của Lưu Thị Mỹ T;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại màn hình trắng đen, màu đen đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu vàng đã qua sử dụng;
- 01 túi nhựa màu trắng đỏ; 01 túi nhựa màu xanh. Các vật chứng hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình làm việc có tổ chức ghi hình có âm thanh, chép vào đĩa DVD, niêm phong và chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy truy tố bị cáo Lưu Thị Mỹ T và Huỳnh Thị Tuyết H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy đã phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lưu Thị Mỹ T và Huỳnh Thị Tuyết H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
Xử phạt bị cáo Lưu Thị Mỹ T 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách tương ứng.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Tuyết H 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách tương ứng.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 580.000 đồng (Năm trăm tám mươi ngàn đồng); 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại màn hình trắng đen, màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu vàng đã qua sử dụng của bị cáo T.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 quyển tập vở ô li bị cắt, xé một phần; 06 mảnh giấy có ghi chữ, số và 08 mảnh giấy trắng có chữ ký của Lưu Thị Mỹ T; 01 túi nhựa màu trắng đỏ; 01 túi nhựa màu xanh.
- - Trả lại cho bị cáo Lưu Thị Mỹ T: Số tiền 7.830.000 đồng (Bảy triệu tám trăm ba mươi ngàn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Tuyết H3, Ngô Tấn Đ, Nguyễn Văn Đ1 vắng mặt, sự vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cùng với các tài liệu, vật chứng và các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án thể hiện trong kỳ mở thưởng ngày 16/01/2024 của các đài xổ số kiến thiết Bến Tre, Bạc Liêu, Bà Rịa – Vũng Tàu, Lưu Thị Mỹ T đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đặt cược lô đề thắng thua bằng tiền với: Phạm Thị Tuyết H3, Ngô Tấn Đ, Đinh Long V1, Cao Văn B, Ngô Phước H4, Lý Kim T2, Nguyễn Văn Đ1 số tiền 5.731.000 đồng. Ngoài ra, Lưu Thị Mỹ T còn đánh bạc với Huỳnh Thị Tuyết H số tiền 462.000 đồng. Tổng số tiền Lưu Thị Mỹ T đánh bạc là 6.193.000 đồng. Huỳnh Thị Tuyết H tham gia đánh bạc dưới hình thức đặt cược lô đề thắng thua bằng tiền với Lưu Thị Mỹ T số tiền 6.007.000 đồng. Do đó, cáo trạng số 18/CT-VKSCB ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy truy tố bị cáo Lưu Thị Mỹ T và Huỳnh Thị Tuyết H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[4] Xét, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, với tính chất, mức độ nghiêm trọng và với ý thức xem thường pháp luật, các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, chỉ vì muốn thu lợi bất chính và thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà các bị cáo có hành vi đánh bạc nhằm hưởng lợi bất chính. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đây là một loại tệ nạn xã hội là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác, cũng là nguyên nhân ảnh hưởng cuộc sống, hạnh phúc của gia đình. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe các bị cáo biết chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[5] Đối với bị cáo Lưu Thị Mỹ T: Trong vụ án này bị cáo bán và đặt cược lô đề thắng thua bằng tiền với số tiền đánh bạc 6.193.000 đồng. Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét, bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo cũng rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục bị cáo, để cải tạo bị cáo thành công dân tốt có ít cho xã hội.
[6] Đối với bị cáo Huỳnh Thị Tuyết H: Trong vụ án này bị cáo đặt cược lô đề thắng thua bằng tiền với số tiền đánh bạc 6.007.000 đồng. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét, bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo cũng rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục bị cáo, để cải tạo bị cáo thành công dân tốt có ít cho xã hội.
Đối với Phạm Thị Tuyết H3, Ngô Tấn Đ, Đinh Long V1, Cao Văn B, Ngô Phước H4, Lý Kim T2, Nguyễn Văn Đ1 chưa có tiền án, tiền sự, kết quả điều tra xác định số tiền tham gia đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an huyện C tiến hành thủ tục xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
[7] Vật chứng thu giữ, tạm giữ của vụ án Hội đồng xét xử xem xét và xử lý các vật chứng còn tạm giữ như sau:
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 580.000 đồng (Năm trăm tám mươi ngàn đồng); 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại màn hình trắng đen, màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu vàng đã qua sử dụng của bị cáo T.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 quyển tập vở ô li bị cắt, xé một phần; 06 mảnh giấy có ghi chữ, số và 08 mảnh giấy trắng có chữ ký của Lưu Thị Mỹ T; 01 túi nhựa màu trắng đỏ; 01 túi nhựa màu xanh.
- - Trả lại cho bị cáo Lưu Thị Mỹ T: Số tiền 7.830.000 đồng (Bảy triệu tám trăm ba mươi ngàn đồng).
[8] Xét, lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, nên buộc bị cáo T, H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lưu Thị Mỹ T và Huỳnh Thị Tuyết H phạm tội “Đánh bạc".
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
- - Xử phạt bị cáo Lưu Thị Mỹ T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 16/7/2024.
- Giao bị cáo Lưu Thị Mỹ T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng với chính quyền địa phương theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Trong trường hợp bị cáo Lưu Thị Mỹ T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Tuyết H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 16/7/2024.
- Giao bị cáo Huỳnh Thị Tuyết H cho Ủy ban nhân dân Phường B2, thị xã C, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng với chính quyền địa phương theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Trong trường hợp bị cáo Huỳnh Thị Tuyết H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 580.000 đồng (Năm trăm tám mươi ngàn đồng); 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại màn hình trắng đen, màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu vàng đã qua sử dụng của bị cáo T.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 quyển tập vở ô li bị cắt, xé một phần; 06 mảnh giấy có ghi chữ, số và 08 mảnh giấy trắng có chữ ký của Lưu Thị Mỹ T; 01 túi nhựa màu trắng đỏ; 01 túi nhựa màu xanh.
- - Trả lại cho bị cáo Lưu Thị Mỹ T: Số tiền 7.830.000 đồng (Bảy triệu tám trăm ba mươi ngàn đồng).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Lưu Thị Mỹ T, Huỳnh Thị Tuyết H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Lưu Thị Mỹ T, Huỳnh Thị Tuyết H; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đinh Long V1, Cao Văn B, Ngô Phước H4, Lý Kim T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Tuyết H3, Ngô Tấn Đ, Nguyễn Văn Đ1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hồ Văn Khỏe |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về đánh bạc
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Thị Mỹ T và Huỳnh Thị Tuyết H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy truy tố về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS 2015
