|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16-5-2024 v/v chia tài sản sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình
Ông Đặng Văn Khánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyên Khang là thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng:
Bà Lê Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 465/2022/HNGĐ-ST ngày 05/12//2022 về việc: “Chia tài sản sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2024/QÐSTT-HNGĐ ngày 29/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2024/QÐSTT-HNGĐ ngày 26/4/2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Thanh D, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số A đường C, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Thanh D là ông Trương Công S - Luật sư Công ty L. Địa chỉ: Số H đường P, quận C, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).
2. Bị đơn: Bà Mai Thị O, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số A đường H, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Mai Thị O là ông Phạm Văn N - Luật sư văn phòng L1. Địa chỉ: 2 đường Đ, quận T, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Mai Văn K, sinh năm 1961 và bà Lê Thị N1, sinh năm 1964. Địa chỉ: Xóm I, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (Bà N1 vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Mai Văn K: Ông Mai Văn Đ, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số A H, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng (Hợp đồng ủy quyền ngày 16/11/2023) (Có mặt).
3.2. Ông Mai Văn C, sinh năm: 1969. Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Mai Văn C: Ông Mai Văn Đ, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số A H, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng (Hợp đồng ủy quyền ngày 16/11/2023) (Có mặt).
3.3. Bà Mai Thị Đ1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Xóm I, A, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Mai Thị Đ1: Ông Mai Văn Đ, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số A H, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng (Hợp đồng ủy quyền ngày 09/11/2023) (Có mặt).
3.4. Ông Mai Văn Đ, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số A H, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).
3.5. Bà Mai Thị Hồng H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
*Trong đơn khởi kiện đề ngày 11/01/2021, văn bản trình bày ý kiến đề ngày 04/02/2021, các bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Thanh D trình bày:
- Về tài sản chung: Ông và bà Mai Thị O kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly hôn theo Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 102/2022/HNGĐ-ST ngày 13/4/2022 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng và Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 15/2022/HNGĐ-PT ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Trong thời kỳ hôn nhân ông và bà Mai Thị O tạo lập được tài sản chung sau: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 683, tờ bản đồ số B2.11 nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211, địa chỉ: Khu E mở rộng (GĐ1 - PK1) - KDC N cầu C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (sau đây gọi tắt là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211) (có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 284234 do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 31/12/2014 và đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận C chỉnh lý biến động ngày 30/9/2016 cho bà Mai Thị O và ông Lê Thanh D). Ông và bà O nhận chuyển nhượng thửa đất trên với giá 600.000.000 đồng. Nguồn gốc số tiền mua thửa đất như sau: Ông và bà O có 220.000.000 đồng. Sau đó, ông và bà O có vay của những người sau để thêm vào tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể:
- - Vay của công ty CP C1, địa chỉ: 3 đường H, thành phố Đà Nẵng, số tiền: 50.000.000 đồng. Ông và bà O đã trả xong.
- - Vay của mẹ ông D là bà Đỗ Thị X, địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định, số tiền 30.000.000 đồng. Ông và bà O đã trả xong.
- - Vay của ông Mai Văn K và bà Lê Thị N1 số tiền 200.000.000 đồng.
- - Vay của ông Mai Văn C số tiền 50.000.000 đồng.
- - Vay của ông Mai Văn Đ2 số tiền 50.000.000 đồng.
Sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất nêu trên, thì ông và bà O đã thế chấp tài sản vay số tiền 200.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP X1, để trả cho ông Mai Văn K, bà Lê Thị N1 số tiền 100.000.000 đồng, trả cho ông Mai Văn C số tiền 50.000.000 đồng, trả cho ông Mai Văn Đ2 số tiền 50.000.000 đồng. Ông và bà O còn nợ ông Mai Văn K và bà Lê Thị N1 số tiền 100.000.000 đồng.
Hiện nay Bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 284234 do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 31/12/2014 và đã được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận C chỉnh lý biến động ngày 30/9/2016 cho bà Mai Thị O và ông Lê Thanh D là bà Mai Thị O giữ.
Về việc giá trị tài sản chung: Ông thống nhất giá trị tài sản chung theo kết quả thẩm định giá là: 3.169.102.614 đồng (Ba tỷ, một trăm sáu mươi chín triệu, một trăm linh hai nghìn, sáu trăm mười bốn đồng).
Ông D đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung như sau: Ông được hưởng giá trị tài sản chung là 1.400.000.000 đồng, bà O được hưởng giá trị tài sản chung là 1.769.102.614 đồng. Ông D đồng ý giao quyền sử dụng đất cho bà O quản lý, sử dụng và bà O có trách nhiệm thối trả cho ông số tiền 1.400.000.000 đồng.
- Về nợ chung: Đối với số tiền nợ ông Mai Văn K và bà Lê Thị N1 là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Ông nhận số tiền thối trả tài sản chung là 1.400.000.000 đồng và bà O tự xử lý số tiền nợ với ba mẹ là ông K, bà N1, nên ông và bà O không còn nợ chung.
Tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận của ông và bà O theo đúng như sự thống nhất thỏa thuận của ông và bà O tại phiên hòa giải ngày 05/3/2024, tuy nhiên về thời gian thối trả sẽ thay đổi cho phù hợp, cụ thể như sau:
Ông và bà Mai Thị O thống nhất: Giao thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211 có giá trị 3.169.102.614 đồng cho bà Mai Thị O quản lý, sử dụng.
Ông D được hưởng giá trị tài sản chung là 1.400.000.000 đồng, bà O được hưởng giá trị tài sản chung là 1.769.102.614 đồng.
Về nghĩa vụ thối trả: Bà Mai Thị O phải thanh toán số tiền chia tài sản chung cho ông là 1.400.000.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm triệu đồng) vào ngày 17/6/2024.
Về nợ chung: Không có.
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng, chi phí định giá tài sản là 31.000.000 đồng: Ông tự nguyện chịu.
Đối với việc rút yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Mai Văn K và bà Lê Thị N1, ông Mai Văn C, bà Mai Thị H và bà Mai Thị Hồng H thì ông không có ý kiến gì.
* Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Lê Thanh D là ông Trương Công S trình bày: Đề nghị HĐXX xem xét công nhận sự thỏa thuận về tài sản chung của ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O theo
nội dung tại biên bản hòa giải ngày 05/3/2024. Tuy nhiên, thời gian thối trả giá trị chênh lệch tài sản chung với số tiền 1.400.000.000 đồng cho ông D là vào ngày 17/6/2024.
* Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bị đơn bà Dương Thị O1 trình bày: Tài sản chung tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của bà và ông D là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211, địa chỉ: Khu E mở rộng (GĐ1 - PK1) - KDC N cầu C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 284234 do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 31/12/2014 và đã được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận C chỉnh lý biến động ngày 30/9/2016 cho bà Mai Thị O và ông Lê Thanh D). Tại thời điểm chuyển nhượng, giá nhận chuyển nhượng thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211 là 600.000.000 đồng. Nguồn gốc số tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau: bà và ông D chỉ có 50.000.000 đồng, còn lại của ông K, bà N1: 200.000.000 đồng, ông Mai Văn C: 200.000.000 đồng; bà Mai Thị Đ1: 50.000.000 đồng và bà Mai Thị H: 20.000.000 đồng; của công ty CP C1: 50.000.000 đồng, của mẹ ông D là bà Đỗ Thị X: 30.000.000 đồng. Bà và ông D đã trả xong cho công ty CP C1 số tiền 50.000.000 đồng và cho bà Đỗ Thị X số tiền 30.000.000 đồng.
Về việc giá trị tài sản chung: Bà thống nhất giá trị tài sản chung theo kết quả thẩm định giá là: 3.169.102.614 đồng (Ba tỷ, một trăm sáu mươi chín triệu, một trăm linh hai nghìn, sáu trăm mười bốn đồng).
Bà đồng ý được nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211 và bà sẽ thối trả lại cho ông Lê Thanh D số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm triệu đồng).
Hiện nay Bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 284234 do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 31/12/2014 và đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận C chỉnh lý biến động ngày 30/9/2016 cho bà Mai Thị O và ông Lê Thanh D do ba bà là ông Mai Văn K giữ.
- Về nợ chung: Do đứa con thứ ba của bà và ông D là cháu Lê Thảo M, sinh ngày 06/10/2019 bị đau ốm bẩm sinh thường xuyên nhập viện, nên bà có vay của ba mẹ bà là ông Mai Văn K và bà Lê Thị N1 số tiền 100.000.000 đồng và em gái bà là bà Mai Thị Đ1 số tiền 50.000.000 đồng, vì là người thân trong gia đình nên không viết giấy vay tiền.
Tuy nhiên, bà và ông D thống nhất là bà thối trả cho ông D số tiền chia tài sản chung là 1.400.000.000 đồng nên về số nợ của gia đình bà thì bà tự xử lý, không liên quan ông D nữa. Vì vậy, về nợ chung: bà và ông D không có.
Tại phiên tòa, bà đề nghị HĐXX xem xét công nhận sự thỏa thuận của bà và ông D theo đúng như sự thống nhất thỏa thuận của ông D và bà tại phiên hòa giải ngày 05/3/2024, tuy nhiên về thời gian thối trả sẽ thay đổi cho phù hợp, cụ thể như sau:
Ông Lê Thanh D và bà thống nhất: Giao thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211 có giá trị 3.169.102.614 đồng cho bà O quản lý, sử dụng. Ông D được hưởng giá
trị tài sản chung là 1.400.000.000 đồng, bà O được hưởng giá trị tài sản chung là 1.769.102.614 đồng.
Về nghĩa vụ thối trả: Bà Mai Thị O phải thanh toán số tiền chia tài sản chung cho ông Lê Thanh D là 1.400.000.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm triệu đồng) vào ngày 17/6/2024.
Về nợ chung: Không có.
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng, chi phí định giá tài sản là 31.000.000 đồng: Ông D tự nguyện chịu.
Đối với việc rút yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Mai Văn K và bà Lê Thị N1, ông Mai Văn C, bà Mai Thị H và bà Mai Thị Hồng H thì bà không có ý kiến gì.
* Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Mai Thị O là ông Phạm Văn N trình bày: Nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận được việc chia tài sản chung tại phiên hòa giải ngày 05/3/2024, nên đề nghị HĐXX xem xét công nhận sự thỏa thuận về tài sản chung của ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O. Về thời gian thối trả giá trị chênh lệch tài sản chung 1.400.000.000 đồng cho ông D là vào ngày 17/6/2024.
* Trong đơn yêu cầu độc lập không đề ngày tháng năm 2023, gửi đến Tòa án ngày 29/8/2023 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên ông Mai Văn K, bà Lê Thị N1, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông Mai Văn K là ông Mai Văn Đ trình bày:
Năm 2016, vợ chồng ông K và bà N1 có góp vốn để mua lô đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211 cùng với ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O với số tiền 200.000.000 đồng. Tại thời điểm mua lô đất vào tháng 9/2016 có giá trị là 600.000.000 đồng, đến thời điểm hiện tại lô đất có giá trị 3.000.000.000 đồng. Do đó, số tiền vợ chồng ông K và bà N1 góp chiếm 1/3 giá trị lô đất hiện tại là 1.000.000.000 đồng. Hiện nay Bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 284234 do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 31/12/2014 và đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận C chỉnh lý biến động ngày 30/9/2016 cho bà Mai Thị O và ông Lê Thanh D là ông Mai Văn K giữ.
Năm 2019, vợ chồng ông K và bà N1 có cho ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O vay số tiền 100.000.000 đồng vì lý do sinh con thứ 3 không có tiền chi trả.
Do đó, vợ chồng ông K và bà N1 yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Mai Thị O và ông Lê Thành D1 trả lại cho vợ chồng ông K và bà N1 tổng số tiền 1.136.520.000 đồng (Một tỷ, một trăm ba mươi sáu triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng); trong đó: số tiền 1.000.000.000 đồng tương ứng với 200.000.000 đồng tiền góp vốn để mua lô đất vào thời điểm năm 2016 (1/3 giá trị lô đất) và số tiền nợ 136.000.000 đồng, gồm: nợ gốc là 100.000.000 đồng, nợ lãi là 100.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 44 tháng = 36.520.000 đồng (tính từ tháng 10/2019).
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 15/5/2024, bà Lê Thị N1 có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập đối với ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông Mai Văn K là ông Mai Văn Đ có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập đối với ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận sự thống nhất thỏa thuận về tài sản chung giữa ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O. Ông K đồng ý giao lại cho bà O: Bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 284234 do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 31/12/2014 và đã được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận C chỉnh lý biến động ngày 30/9/2016 cho bà Mai Thị O và ông Lê Thanh D.
* Trong đơn yêu cầu độc lập không đề ngày tháng năm 2023, gửi đến Tòa án ngày 29/8/2023 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên ông Mai Văn C, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền ông Mai Văn Đ trình bày:
Năm 2016, ông Mai Văn C góp vốn để mua lô đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211 cùng với ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O với số tiền 200.000.000 đồng. Tại thời điểm mua lô đất vào tháng 9/2016 có giá trị là 600.000.000 đồng, đến thời điểm hiện tại lô đất có giá trị 3.000.000.000 đồng. Do đó, số tiền ông Mai Văn C góp chiếm 1/3 giá trị lô đất hiện tại là 1.000.000.000 đồng.
Vì vậy, ông C yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Mai Thị O và ông Lê Thanh D phải trả số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) tương ứng 200.000.000 đồng tiền góp vốn vào thời điểm mua lô đất năm 2016 (1/3 giá trị lô đất).
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông Mai Văn C là ông Mai Văn Đ có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập đối với ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận sự thống nhất thỏa thuận về tài sản chung giữa ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O.
* Trong đơn yêu cầu độc lập không đề ngày tháng năm 2023, gửi đến Tòa án ngày 29/8/2023 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên bà Mai Thị Đ1, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền là ông Mai Văn Đ trình bày:
Năm 2016, bà Mai Thị Đ1 có góp vốn để mua lô đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211 cùng với ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O với số tiền 20.000.000 đồng. Tại thời điểm mua lô đất vào tháng 9/2016 có giá trị là 600.000.000 đồng, đến thời điểm hiện tại lô đất có giá trị 3.000.000.000 đồng. Do đó, số tiền ông Mai Văn C góp chiếm 1/30 giá trị lô đất hiện tại là 100.000.000 đồng.
Vì vậy, bà Đ1 yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Mai Thị O và ông Lê Thành D1 phải trả cho bà số tiền 100.000.000 đồng tương ứng với số tiền 20.000.000 đồng tiền góp vốn vào thời điểm mua lô đất năm 2016 (1/30 tổng giá trị lô đất).
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bà Mai Thị Đ1 là ông Mai Văn Đ có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập đối với ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Mai Văn Đ trình bày:
Ông D và bà O có vay của ông 70.000.000 đồng vào năm 2018, hai bên không viết giấy vay mượn, vay làm 2 lần. Lần đầu là ông rút thẻ đưa trực tiếp cho ông D, lần hai là ông đưa cho bà O. Nay ông có yêu cầu buộc ông D và bà O mỗi người có trách nhiệm trả cho ông 1 số tiền nợ và lãi phát sinh 70.000.000 đồng với lãi suất 3%/tháng. Tại phiên toà, ông không có yêu cầu gì đối với ông D, bà O.
* Trong đơn yêu cầu độc lập không đề ngày tháng năm 2023, gửi đến Tòa án ngày 29/8/2023 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên bà Mai Thị H (theo căn cước công dân là Mai Thị Hồng H) trình bày:
Năm 2016, bà H có góp vốn để mua lô đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211 cùng với ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O với số tiền 50.000.000 đồng. Tại thời điểm mua lô đất vào tháng 9/2016 có giá trị là 600.000.000 đồng, đến thời điểm hiện tại lô đất có giá trị 3.000.000.000 đồng. Do đó, số tiền ông Mai Văn C góp chiếm 1/12 giá trị lô đất hiện tại là 250.000.000 đồng.
Vì vậy, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Mai Thị O và ông Lê Thành D1 phải trả cho bà số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) tương ứng với số tiền 50.000.000 đồng tiền góp vốn vào thời điểm mua lô đất năm 2016 (1/12 giá trị lô đất).
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 15/5/2024, bà Mai Thị Hồng H có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập đối với ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O.
* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án:
Về tài sản chung: Đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận về tài sản chung của ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O, cụ thể như sau:
Giao thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211, địa chỉ: Khu E mở rộng (GĐ1 - PK1) - KDC N cầu C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng cho bà Mai Thị O quản lý, sử dụng. Ông D được hưởng giá trị tài sản chung là 1.400.000.000 đồng, bà O được hưởng giá trị tài sản chung là 1.769.102.614 đồng. Bà O có nghĩa vụ thối trả cho ông D số tiền 1.400.000.000 đồng. Bà O có quyền liên hệ với ông Mai Văn K để lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục sang tên theo quy định pháp luật.
Về nợ chung: Ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O xác nhận không có, nên không xem xét giải quyết.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn K và bà Mai Thị N2, ông Mai Văn C, bà Mai Thị Đ1 và bà Mai Thị Hồng H đối với ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O.
Về án phí: Nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Tại bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 15/2022/HNGĐ-PT ngày 24/8/2022 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà O và ông D, giải quyết về con chung, huỷ một phần bản án dân sự sơ thẩm số 102/2022/HNGĐ-ST ngày 13/4/2024 của Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ về chia tài sản và nợ, giao hồ sơ cho Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Do đó, HĐXX xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là chia tài sản sau khi ly hôn và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ.
[2] Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N1, bà Mai Thị Hồng H vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N1 và bà H.
[3] Quá trình giải quyết vụ án, ngày 15/5/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị N1, bà Mai Thị Hồng H có đơn xin rút yêu cầu độc lập đối với ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn C, ông Mai Văn K và bà Mai Thị Đ1 là ông Mai Văn Đ có đơn xin rút yêu cầu độc lập đối với ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O. HĐXX xét thấy việc rút yêu cầu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Mai Văn K, bà Mai Thị N2, ông Mai Văn C, bà Mai Thị Đ1 và bà Mai Thị Hồng H là tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên.
Về nội dung:
[4] Về tài sản chung:
[4.1] Về xác định tài sản chung: Nguyên đơn ông Lê Thanh D và bị đơn bà Mai Thị O đều thừa nhận trong thời kỳ hôn nhân ông bà đã tạo lập được tài sản chung là: Thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211 (trước đây là thửa đất số 683, tờ bản đồ số B2.11) (có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 284234 do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 31/12/2014 và đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận C chỉnh lý biến động ngày 30/9/2016 cho bà Mai Thị O và ông Lê Thanh D). Do đó, đây là tình tiết không phải chứng minh quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Như vậy, HĐXX có căn cứ xác định tài sản nêu
trên là tài sản chung mà bà Mai Thị O và ông Lê Thanh D đã tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân.
[4.2] Về giá trị tài sản chung: Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 20/12/2023 và Kết quả của chứng thư thẩm định giá số 524004/CT-BTCValuation cung cấp thì quyền sử dụng đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211 có giá trị 3.169.102.614 đồng và có tứ cận như sau: Hướng Đông: Giáp mương thoát nước, hướng Tây: Giáp đường Đ, hướng Nam: giáp số nhà E Đô Đốc L và hướng Bắc: giáp số nhà E Đô Đốc L. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông D và bà O thống nhất với kết quả định giá.
[4.3] Về tỷ lệ phân chia tài sản chung, giao hiện vật và nghĩa vụ thối trả: Tại phiên tòa, ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận như sau: Ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O thống nhất giao thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211 địa chỉ: Khu E mở rộng (GĐ1 - PK1) - KDC N cầu C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, có giá trị 3.169.102.614 đồng cho bà Mai Thị O quản lý, sử dụng. Ông D được hưởng giá trị tài sản chung là 1.400.000.000 đồng, bà O được hưởng giá trị tài sản chung là 1.769.102.614 đồng.
Về nghĩa vụ thối trả: Bà Mai Thị O phải thanh toán số tiền chia tài sản chung cho ông Lê Thanh D là 1.400.000.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm triệu đồng) vào ngày 17/6/2024.
Xét thấy sự thỏa thuận về tài sản chung của ông D và bà O là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên HĐXX công nhận.
[5] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông Mai Văn K trình bày sẽ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211 cho bà Mai Thị O nên HĐXX ghi nhận.
[6] Về nợ chung: Ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O xác nhận không có.
[7] Đối với yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn Đ về việc yêu cầu toà án giải quyết buộc ông D và bà O mỗi người có trách nhiệm trả cho ông 1 số tiền nợ và lãi phát sinh 70.000.000 đồng với lãi suất 3%/tháng. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã có văn bản yêu cầu ông Mai Văn Đ thực hiện thủ tục yêu cầu độc lập nhưng ông không thực hiện. Đồng thời, tại phiên toà ông Đ không yêu cầu giải quyết gì đối với ông D, bà O. Do đó, HĐXX không xem xét.
[8] Về đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng về việc giải quyết vụ án: HĐXX nhận thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phù hợp với phân tích nêu trên nên HĐXX chấp nhận.
[9] Về án phí:
[9.1] Do nguyên đơn và bị đơn đã tự thỏa thuận phân chia tài sản chung tại phiên hòa giải ngày 05/3/2024 và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án, nên được xem là các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ
án trong trường hợp Tòa án hòa giải trước khi mở phiên tòa. Do đó, nguyên đơn và bị đơn phải chịu 50% mức án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia theo quy định tại khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cụ thể:
Nguyên đơn ông Lê Thanh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 50% x [36.000.000 + 3% x (1.400.000.000 - 800.000.000)] = 27.000.000 đồng.
Bị đơn bà Mai Thị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 50% x [36.000.000 + 3% x (1.769.102.614 - 800.000.000)] = 32.536.539 theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[9.2] Hoàn trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn C, bà Mai Thị Đ1 và bà Mai Thị Hồng H số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[10] Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng, chi phí định giá tài sản là 31.000.000 đồng: Ông Lê Thanh D tự nguyện chịu. Ông Lê Thanh D đã nộp và đã chi xong.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Điều 28, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 244, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình;
- -Điểm đ Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên:
1. Về tài sản chung: Công nhận sự thỏa thuận của ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O như sau:
Tài sản chung tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O gồm: Thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211 (trước đây là thửa đất số 683, tờ bản đồ số B2.11), địa chỉ: Khu E mở rộng (GĐ1 - PK1) - KDC N cầu C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 284234 do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 31/12/2014 và đã được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận C chỉnh lý biến động ngày 30/9/2016 cho bà Mai Thị O và ông Lê Thanh D).
Ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O thống nhất: Giao thửa đất số 97, tờ bản đồ số 211, địa chỉ: Khu E mở rộng (GĐ1 - PK1) - KDC N cầu C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, có giá trị 3.169.102.614 đồng cho bà Mai Thị O
quản lý, sử dụng. Ông D được hưởng giá trị tài sản chung là 1.400.000.000 đồng, bà O được hưởng giá trị tài sản chung là 1.769.102.614 đồng.
Ông Mai Văn K phải giao cho bà Mai Thị O: Bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 284234 do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 31/12/2014 và đã được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận C chỉnh lý biến động ngày 30/9/2016 cho bà Mai Thị O và ông Lê Thanh D.
Bà Mai Thị O được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện đăng ký quyền sở hữu, sử dụng theo quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ thối trả: Bà Mai Thị O phải thanh toán số tiền chia tài sản chung cho ông Lê Thanh D là 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) vào ngày 17/6/2024.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về nợ chung: Ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O xác nhận không có.
3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn K, bà Mai Thị N2, ông Mai Văn C, bà Mai Thị Đ1 và bà Mai Thị Hồng H đối với ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O.
4. Về án phí sơ thẩm:
- Ông Lê Thanh D phải chịu án phí yêu cầu chia tài sản chung là 27.000.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 28.500.000 đồng mà ông Lê Thanh D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008669 ngày 25/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng). Hoàn trả lại cho ông Lê Thanh D số tiền chênh lệch là 1.500.000 đồng.
- Bà Mai Thị O phải chịu án phí yêu cầu chia tài sản chung là 32.536.539 đồng.
- - Hoàn trả lại cho ông Mai Văn C số tiền tạm ứng án phí 21.000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001805 ngày 08/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- - Hoàn trả lại cho bà Mai Thị Đ1 số tiền tạm ứng án phí 6.250.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001803 ngày 08/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- - Hoàn trả lại cho bà Mai Thị Hồng H số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001804 ngày 08/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (Theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001804 ngày 08/9/2023 là Mai Thị H).
- - Ông Mai Văn K, bà Mai Thị N2 được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí (thuộc trường hợp người cao tuổi).
5. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng, chi phí định giá tài sản là 31.000.000 đồng: Ông Lê Thanh D tự nguyện chịu. Ông Lê Thanh D đã nộp và đã chi xong.
6. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Các hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
- - VKSND quận Cẩm Lệ;
- - Lưu Hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn giữa ông Lê Thanh D và bà Mai Thị O
