Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày 15/8/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nghịbà Lương Thị Phấn.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST- HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với các Bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Xuân T; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 08/10/1984; tại: huyện V, tỉnh Yên Bái.

Trú tại: thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 08/12;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Phạm Quang L, sinh năm 1948 và bà: Phạm Thị N (đã chết).

Vợ: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1985; Con: có 03 con (lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm: 2022).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/4/2024 đến ngày 04/5/2024 chuyển tạm giam. Hiện Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.

2. Họ và tên: Hoàng Văn T1; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 19/6/1980; tại: huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Trú tại: khu M, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Mường; Trình độ học vấn: 12/12;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Hoàng Quốc M, sinh năm 1951 và bà: Đinh Thị K (đã chết).

Vợ: Hà Thị M1, sinh năm 1983; Con: có 02 con (lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm: 2009).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/4/2024 đến ngày 04/5/2024 chuyển tạm giam. Hiện Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.

(Các Bị cáo có mặt tại phiên toà).

Người bào chữa cho Bị cáo Hoàng Văn T1: Ông Lã Thành C – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trịnh Văn T2, sinh năm 2001; Địa chỉ: khu T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24/4/2024 tại khu L, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác Công an huyện T kiểm tra hành chính đối với Hoàng Văn T1, sinh năm 1980, trú quán khu M, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ và Trịnh Văn T2, sinh năm 2001, trú quán khu T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ tại túi quần bên phải của Hoàng Văn T1 đang mặc có 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong gói giấy có chứa chất bột, cục màu trắng, T1 khai nhận chất bột cục màu trắng là ma túy (kết quả giám định là ma túy loại heroin có khối lượng 0,316 gam), do Tiềm mua về để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị kiểm tra phát hiện.

Quá trình làm việc, T1 khai nhận số ma tuý trên là do Tiềm mua của Phạm Xuân T.

Ngày 25/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Xuân T tại khu T, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật gì. Quá trình làm việc, Phạm Xuân T đã thừa nhận toàn bộ hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Hoàng Văn T1 vào trưa ngày 24/4/2024.

Quá trình điều tra, xác định hành vi phạm tội của các Bị cáo như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 24/4/2024, Hoàng Văn T1 đang ở nhà thì có anh Trịnh Văn T2, sinh năm 2001, trú quán khu T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ đến nhà của T1 chơi uống nước, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Tiềm rủ anh T2 đi lên đến xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái chơi, T2 đồng ý. (Khi đi Tiềm không nói cho anh T2 biết việc lên xã M để chơi với ai? Làm gì ở đó?).

Sau đó anh T2 dùng xe mô tô của mình chở Hoàng Văn T1 đi đến xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái. Khi đến thôn T, xã M, Tiềm nói anh T2 đứng đợi Tiềm ở ven đường, Tiềm đi bộ vào nhà ở của Phạm Xuân T, sinh năm 1984, trú quán thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái. Khi gặp T, Tiềm nhờ Thu mua hộ 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) ma túy (H), T1 nói nếu mua được ma túy Tiềm sẽ cắt lại cho T số ma túy tương ứng với số tiền 100.000đ để T sử dụng. T đồng ý, T1 đưa cho T 400.000đ. T bảo T1 đứng đợi để T đi mua ma túy.

T đi đến ngã ba cầu M, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái, gặp người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ T hỏi “Có không để cho 400.000đ", ý là ma túy, người đàn ông đó gật đầu rồi bảo T đợi một lúc, sau đó người này đi đâu rồi quay lại đưa cho T 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong gói giấy có chứa chất ma túy, Thu nhận rồi đưa lại cho người đàn ông 400.000đ, sau đó đi về nhà ở của mình, khi gần về đến nhà T mở gói ma túy ra và chia gói ma túy trên thành 2 phần, 1 phần T sử dụng luôn tại chỗ, phần còn lại T gói lại đem về đưa cho T1.

Tiềm dùng túi nilon bọc bên ngoài gói giấy, sau đó đúc vào túi quần bên phải rồi đi bộ ra chỗ anh T2 đang đợi ở ngoài đường, T1 bảo anh T2 chở T1 về nhà ở của Tiềm.

Khi đang trên đường về nhà thì T1 và T2 bị Tổ công tác Công an huyện T kiểm tra hành chính và thu giữ số ma tuý mà Tiềm để ở túi quần bên phải. Đến khoảng 14h cùng ngày thì T được Công an huyện T triệu tập đến làm việc.

Về các vấn đề khác của vụ án:

Ngày 24/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ của Hoàng Văn T1. Tại bản kết luận giám định số: 584/KL-KTHS ngày 29/4/2024 của phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận: “Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng là: 0,316 gam loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất."

Ngày 03/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Hoàng Văn T1 về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và Phạm Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa chữa bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS năm 2015).

Trong quá trình khởi tố, truy tố và tại phiên tòa các Các Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:

- Tại Bản cáo trạng số: 22/CT-VKS- TS ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Phạm Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và Bị cáo Hoàng Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên Bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 của BLHS năm 2015.

+ Tuyên Bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Phạm Xuân T. Xử phạt Bị cáo Phạm Xuân T từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 25/4/2024.

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Hoàng Văn T1. Xử phạt Bị cáo Hoàng Văn T1 từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 25/4/2024.

+ Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng c khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì giấy số 2116086 ngày 29/4/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh P hoàn trả 0,247 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói sau giám định trong mẫu vật chứng thu giữ của Hoàng Văn T1.

+ Về án phí: Bị cáo Phạm Xuân T phải nộp án phí; Bị cáo Hoàng Văn T1 được miễn toàn bộ án phí theo quy định.

Quan điểm của Người bào chữa cho Bị cáo Tiềm: Đồng ý với điểm, khoản, Điều luật mà Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên, ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên đã áp dụng thì Bị cáo còn là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hoá thấp, sống tại xã nghèo đã ít nhiều ảnh hưởng đến nhận thức của Bị cáo. Do đó, mức đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là hơi nghiêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt Bị cáo Hoàng Văn T1 ở mức khởi điểm của khung hình phạt.

Các Bị cáo nói lời sau cùng: các Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho các Bị cáo mức án thấp nhất để các Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên toà hôm nay các Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của các Bị cáo thống nhất, phù hợp với Biên bản sự việc, Biên bản niêm phong vật chứng, đồng thời phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 24/4/2024, tại nhà ở của Phạm Xuân T, sinh năm 1985, trú quán tại Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái, Phạm Xuân T đã có hành vi bán trái phép chất ma túy (loại Heroin) có khối lượng 0,316 gam cho Hoàng Văn T1, sinh năm 1980, trú quán: khu M, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ với giá 400.000 đồng. Hoàng Văn T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,316 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện và thu giữ.

Heroine (H2), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại BLHS năm 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các Danh mục chất ma túy và tiền chất.

Các Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; Các Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Động cơ mục đích, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Hoàng Văn T1 là cố ý trực tiếp, mục đích để thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân dẫn đến hành vi phạm tội. Hành vi bán trái phép chất ma túy của Phạm Xuân T là cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi để kiếm lời dẫn đến hành vi phạm tội.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định hành vi của các Bị cáo đã phạm vào các tội như sau:

- Hành vi của Bị cáo Phạm Xuân T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất Ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS năm 2015. Quy định cụ thể như sau:

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

- Hành vi của Bị cáo Hoàng Văn T1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015. Quy định cụ thể như sau:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

(...)

c, H1, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất Ma túy của Nhà nước là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, hành vi của các Bị cáo cần bị xử lý nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

- Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các Bị cáo có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định của BLHS năm 2015.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên mỗi Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Bị cáo Phạm Xuân T có bố Phạm Quang L và mẹ Phạm Thị N là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì nên Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015.

Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của các Bị cáo là nghiêm trọng, chỉ vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các Bị cáo đã bất chấp hậu quả xấu gây ra cho xã hội, cố ý thực hiện tội phạm. Do vậy, cần áp dụng Điều 38 của BLHS năm 2015, xử phạt các Bị cáo hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt và là mức thấp theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 của BLHS năm 2015, các Bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung, tuy nhiên xét thấy các Bị cáo đều là những đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo là phù hợp.

[4] Về các vấn đề khác của vụ án:

Về nguồn gốc ma túy Phạm Xuân T khai nhận mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở ngã ba cầu M, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái. Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Xuân T, sáng ngày 24/4/2024, Công an huyện T đã có công văn và chuyển tài liệu cho Công an huyện V, tỉnh Yên Bái xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.

Đối với Trịnh Văn T2 là người dùng xe mô tô của mình chở Hoàng Văn T1 từ nhà ở của Tiềm đi đến xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái để mua ma túy. Tuy nhiên anh T2 không biết việc T1 đi mua ma túy về để sử dụng nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với anh T2. Xét thấy là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) phong bì giấy số 2116086 ngày 29/4/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh P hoàn trả 0,247 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói sau giám định, xét thấy là vật có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về án phí:

- Bị cáo Phạm Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Hoàng Văn T1 là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ kết tội, tội danh:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Phạm Xuân T. Tuyên bố Bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Hoàng Văn T1. Tuyên bố Bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt:

- Xử phạt Bị cáo Phạm Xuân T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 25/4/2024.

- Xử phạt Bị cáo Hoàng Văn T1 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 25/4/2024.

- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo Phạm Xuân T và Hoàng Văn T1.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì giấy số 2116086 ngày 29/4/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh P hoàn trả 0,247 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói sau giám định trong mẫu vật chứng thu giữ của Hoàng Văn T1.

Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn ngày 07/8/2024.

4. Về án phí:

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội đối với Bị cáo Phạm Xuân T.

Buộc Bị cáo Phạm Xuân T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội đối với Bị cáo Hoàng Văn T1.

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo Hoàng Văn T1.

5. Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Công an huyện Tân Sơn;
  • - CQ THA dân sự huyện;
  • - Nhà tạm giữ - Công an huyện;
  • - UBND nơi b/c thường trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Chí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm xuân Thu mua bán trái phép ma tuý, hoàng văn tiềm tàng trữ trái phép ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger