|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HS-ST
Ngày: 15/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Hữu Soi;
- Ông Hồ Thanh Tùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị Ngọc H; Sinh ngày 23/6/2003; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Lê Văn Đ, sinh năm: 1966 và bà Phạm Thị T, sinh năm: 1964; Bị cáo có 02 người chị và 01 người em; chưa có chồng; Có 01 con, sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Ngọc H theo yêu cầu: Luật sư Nguyễn Văn T1 (có mặt) và luật sư Lê Thanh T2 (vắng mặt) – Công ty L2, thuộc đoàn Luật sư Thành phố H.
Bị hại:
- Trần Hoàng K, sinh năm 1994 (có mặt);
- Lý Bình T3, sinh năm 2004 (có mặt);
Cùng cư trú: Ấp C, xã B, huyện T, Đồng Tháp.
Người làm chứng:
- Phạm Thị T, sinh năm 1964 (có mặt);
- Trần Hoàng H1, sinh năm 1973 (có mặt);
- Lý Bình T4, sinh năm 1994 (có mặt);
- Nguyễn Thị H2, sinh năm 1989 (có mặt);
Cùng cư trú: Ấp C, xã B, huyện T, Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Ngọc H làm việc tại Công ty N thuộc khu T, thành phố S, tỉnh Oddar Meanchey, V Campuchia, từ ngày 15/4/2023. Trong thời gian làm việc, người quản lý tên L (không rõ địa chỉ, đang làm chung Công ty) nói nếu H dẫn dụ, giới thiệu đưa 01 người vào công ty làm việc thì được trả tiền huê hồng 1.000 USD nên H nảy sinh ý định tìm bạn bè, người quen để dụ dỗ sang Campuchia đưa vào công ty để được hưởng tiền huê hồng. Khoảng đầu tháng 6/2023, H nhiều lần sử dụng tài khoản Facebook gọi điện thoại và nhắn tin cho Trần Hoàng K, sinh năm 1994 và Lý Bình T3, sinh năm 2004 cùng ngụ ấp C, xã B, huyện T là bạn ở cùng xóm rủ rê, đưa ra lời giới thiệu làm việc nhẹ lương cao với mức lương từ 200 USD/tháng để K, T3 tin tưởng nên đồng ý sang Campuchia làm việc theo lời giới thiệu của H. Khi rủ rê, giới thiệu H không nói cho K, T3 biết trước nội quy, những quy định khắt khe của công ty, chỉ tiêu sản lượng hàng tháng phải đạt như thế nào và không nói nếu qua Campuchia không chịu làm hoặc làm việc chưa hết 01 năm mà bỏ về Việt Nam thì phải bồi thường hợp đồng cho công ty (tiền chuộc thân) với số tiền 4.000 USD.
Ngày 11/6/2023, H hướng dẫn T3 đi từ D, tỉnh Bình Dương lên Cửa khẩu M - Tây Ninh sang Campuchia và ngày 13/6/2023, H hướng dẫn K đi từ huyện T, tỉnh Đồng Tháp lên Cửa khẩu M - Tây Ninh qua đường tiểu ngạch sang Campuchia. Sau khi sang Campuchia, H liên hệ với người của Công ty N1 đưa K, T3 đến làm việc. Hân được một người Trung Quốc là quản lý của công ty trả tiền huê hồng 2.000USD rồi H cho K và T3 mỗi người 200 USD. Sau đó cả 02 được người quản lý tên L sắp xếp làm việc trên máy tính tạo nhiều “APP” trên mạng xã hội để lừa đảo người khác qua mạng để chiếm đoạt tài sản về cho công ty; mỗi ngày phải lừa đảo chiếm đoạt được số tiền từ 250USD trở lên, nếu không đạt chỉ tiêu sản lượng sẽ bị công ty phạt bằng các hình thức như tăng thêm giờ làm việc, đứng, quỳ để làm việc, hít đất hoặc đe dọa đánh đập, bán đi nơi khác. Mặc dù không thao tác máy tính thành thạo, công việc không phù hợp nhưng sợ bị đánh đập, sợ bị bán đi nơi khác nên K và T3 miễn cưỡng làm việc đồng thời gặp H nói muốn trở về Việt Nam. Lúc này H nói công ty quy định muốn về Việt Nam phải làm việc đúng 01 năm, còn không thì phải bồi thường hợp đồng cho công ty với số tiền 4000 USD/01 người. Sau đó, K, T3 gặp chủ quản công ty tên L1 để nói muốn về nhà và được người quản lý nói về nhà thì bồi thường cho công ty 4.000 USD. Sau khi liên lạc với gia đình, ngày 30/6/2023, K, T3 được gia đình đem số tiền 8.000 USD (tương đương 196.000.000 đồng) đến Công ty N bồi thường hợp đồng, rồi cả 02 về Việt Nam qua đường C. Đến ngày 13/8/2023, Trần Hoàng K làm đơn tố cáo Lê Thị Ngọc H. Ngày 14/8/2023, H đi từ Campuchia về Việt Nam qua đường tiểu ngạch khu vực biên giới huyện Đ, tỉnh Long An về nhà, rồi H bị Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế D mời làm việc, H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.
Tài liệu, đồ vật tạm giữ gồm: Lê Thị Ngọc H giao nộp 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 màu trắng, số máy: MQ732LL/A, số Imeil: 354897094292753, số seri: FFMXGD2TJ6D đã qua sử dụng.
Trách nhiệm dân sự: Các bị hại Trần Hoàng K và Lý B yêu cầu Lê Thị Ngọc H bồi thường cho mỗi người số tiền mà gia đình mang lên công ty để bồi thường hợp đồng (tiền chuộc thân) là 4.000 USD (tương đương 98.000.000 đồng tiền Việt Nam) và yêu cầu xử Hân theo quy định pháp luật.
Tại cáo trạng số 07/CT-VKS-P2 ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Lê Thị Ngọc H về tội “Mua bán người” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thị Ngọc H phạm tội “Mua bán người”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 150; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc H từ 05 năm đến 07 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng, đề nghị Tòa tuyên như phần nội dung quyết định bản cáo trạng đã nêu.
Luật sư Nguyễn Văn T1 bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo H. Vị luật sư cũng viện dẫn về nguyên nhân, ý thức, điều khiện phạm tội của bị cáo đồng thời nêu ra các tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tác động gia đình khắc phục bồi thường một phần hậu quả cho các bị hại. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đang mang thai. Gia đình bị cáo có công với Cách mạng, ông ngoại được tặng thưởng nhiều huân chương, bà ngoại được Hội đồng bộ trưởng tặng bằng khen. Bị cáo là lao động chính trong gia đình có mẹ bị bệnh và con nhỏ. Các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với lời bào chữa của vị luật sư, không bào chữa bổ sung. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Lê Thị Ngọc H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Chính bị cáo đã thực hiện hành vi gian dối là giới thiệu tìm việc làm việc nhẹ lương cao để các bị hại Trần Hoàng K và Lý B tin tưởng, đồng ý sang V Campuchia làm việc và bị cáo H đã tuyển mộ, chuyển giao 02 bị hại cho công ty bên Campuchia để hưởng lợi 2.000 USD.
Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Thị Ngọc H đã phạm vào tội “Mua bán người” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự.
Tại Điều 150 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) ....;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 08 năm đến 15 năm:
a) .......;
đ) Đối với 2 người đến 05 người;”.
[3] Bị cáo Lê Thị Ngọc H là người đã trưởng thành, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Chỉ vì động cơ vụ lợi, để có tiền chi xài cá nhân mà bị cáo đã thực hiện hành vi như đã nêu trên. Chứng tỏ hành vi của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì động cơ vụ lợi, mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, xem thường nhân phẩm, danh dự và quyền được tự do của người khác. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự và quyền được tự do của con người, mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội gây tâm lý hoang mang và bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo, nhằm phục vụ tình hình chính trị ở địa phương, giữ gìn kỷ cương pháp luật Nhà Nước, đồng thời cũng để răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã nộp khắc phục bồi thường một phần hậu quả cho các bị hại. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đang mang thai. Gia đình bị cáo có công với Cách mạng, ông ngoại của bị cáo được tặng thưởng nhiều huân chương, bà ngoại được Hội đồng Bộ trưởng tặng bằng khen và được công nhận gia đình liệt sĩ. Bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình có mẹ bị bệnh và con nhỏ. Các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự. Do đó, cũng cần xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt.
[6] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Xét lời bào chữa của vị luật sư đối với bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà sơ thẩm, các bị hại Trần Hoàng K và Lý B yêu cầu bị cáo Lê Thị Ngọc H bồi thường cho mỗi người số tiền mà gia đình mang lên công ty để bồi thường hợp đồng (tiền chuộc thân) là 4.000 USD (tương đương 98.000.000 đồng). Xét yêu cầu của các bị hại là có căn cứ. Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất bồi thường theo yêu cầu của các bị hại nên ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo. Theo đó, bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho các anh Trần Hoàng K và Lý Bình T3 mỗi người 98.000.000 đồng nhưng trừ đi 10.000.000 đồng bị cáo đã nộp khắc phục theo biên lai thu số 0004467 ngày 01/11/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho các anh Trần Hoàng K và Lý Bình T3 mỗi người 93.000.000 đồng.
[8] Về vật chứng: Đối với 01 (một) điện thọai di động Iphone 8 màu trắng số máy: MQ732LL/A, số Imeil: 354897094292753, số seri: FFMXGD2TJ6D (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, không kiểm tra số máy, không kiểm tra số Imeil và không kiểm tra số S) là công cụ phạm tội. Xét thấy cần phải tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Ngọc H phạm tội “Mua bán người”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 150; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hánh án.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 468; Điều 584; Điều 586; Điều 592 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Lê Thị Ngọc H phải bồi thường cho các bị hại Trần Hoàng K và Lý B mỗi người 98.000.000 đồng nhưng trừ đi 10.000.000 đồng bị cáo đã nộp khắc phục theo biên lai thu số 0004467 ngày 01/11/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho các bị hại Trần Hoàng K và Lý B mỗi người 93.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành xong.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thọai di động Iphone 8 màu trắng số máy: MQ732LL/A, số Imeil: 354897094292753, số seri: FFMXGD2TJ6D (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, không kiểm tra số máy, không kiểm tra số I và không kiểm tra số S).
(Vật chứng nêu trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Thị Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 9.300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
- Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - mua bán người
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán người
