|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày: 15 – 05 – 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Văn Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lưu Xuân Vĩnh và bà Bùi Thị Luyến.
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: ông Nguyễn Ngọc Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 03 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 05 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đặng Huỳnh S, sinh ngày 23/02/2001 tại tỉnh Bình Thuận; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: xóm B, thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Raglai; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H, sinh năm 1978 và bà Thị L, sinh năm 1978; vợ, con: chưa có; tiền sự: ngày 05/02/2024, bị Công an xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tiền án: không; bị tạm giam từ ngày 22/02/2024, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Mang Sinh, sinh ngày 08/03/2003 tại tỉnh Bình Thuận; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: xóm D, thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Raglai; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mang B, sinh năm 1983 và bà Thị K, sinh năm 1987; vợ, con: chưa có; tiền sự: ngày 05/02/2024, bị Công an xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tiền án: không; bị tạm giam từ ngày 22/02/2024, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến:
+ Anh Trần Quốc D, sinh năm 1988, nơi cư trú: thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt không có lý do.
+ Anh Lê Xuân Hồng S1, sinh năm 2000, nơi cư trú: thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Về hành vi của các các bị cáo, tội danh, điểm, khoản, điều luật và mức hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, đề nghị:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 23/01/2024, bị cáo Đặng Huỳnh S điều khiển xe mô tô biển số 86Y1-4138 (của bà Thị L) chở bị cáo Mang S2 đi nhậu. Trên đường đi, bị cáo S rủ bị cáo S2 cùng nhau góp mỗi người 100.000đồng để mua ma túy về sử dụng thì S2 đồng ý. Khi đi đến khu vực trước Trung tâm y tế huyện T thì S bảo S2 xuống xe đứng đợi, còn S tiếp tục đi đến khu vực nghĩa trang L3 ở thị trấn L gặp một người tên B1 (không rõ nhân thân lai lịch) mua 01 tép ma túy với giá 200.000đồng. Mua ma túy xong, S về lại đón S2 rồi cả hai về nhà ông L1 ở thôn D, xã Đ, huyện T – Là nơi S2 đang ở; Sinh lấy một bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 cây kéo màu bạc làm bằng kim loại, rồi cả hai cùng đi đến khu vực nghĩa địa ở thôn D, xã Đ. Khi đến, S2 lấy ra bộ dụng cụ sử dụng ma túy và dùng kéo cắt tép ma túy đổ vào bộ dụng cụ; do lỗ cắt bị nhỏ không đổ ma túy vào bộ dụng cụ được nên S dùng răng cắn tạo lỗ to hơn, rồi S đổ ma túy vào bộ D1, dùng bật lửa của S tự đốt ma túy cầm cho S2 sử dụng; Sinh sử dụng ma túy xong thì S tự đốt sử dụng ma túy; mỗi bị cáo sử dụng ma túy được khoảng 05 lượt thì hết ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong, S2 bỏ bộ dụng cụ ma túy vào túi áo khoác của S2 rồi cả hai về lại nhà ông L1; S2 đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho S cất giấu ở chân giường rồi cả hai nằm ngủ. Đến khoảng 07 giờ ngày 24/01/2024 Công an xã Đ tiến hành kiểm tra nhà ông L1, phát hiện bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc, niêm phong tang vật ký hiệu M1, M2. Qua làm việc các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 31/01/2024, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- - Mẫu M1 gửi giám định là Methamphetamine.
- - Mẫu M2 gửi giám định là Methamphetamine”.
Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSND-TL ngày 21/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận đã truy tố các bị cáo Đặng Huỳnh S, Mang S2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận khẳng định Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đặng Huỳnh S, Mang S2 phạm tội tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Đặng Huỳnh S mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, xử phạt bị cáo M Sinh
mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam - Ngày 22/02/2024.
[2] Về vật chứng:
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm có: 01 vật làm bằng kim loại có hình dạng như chiếc kéo, có ghi dòng chữ JAGUAR, dài 17cm. 02 chai nhựa có dán giấy ghi dòng chữ “Cốm-Canxi Meko”, cao khoảng 8cm, nắp màu trắng được đục 02 lỗ, một lỗ có gắn ống hút nhựa màu trắng. 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phòng 01 đầu. 01 gói nylon không màu, hở một đầu, được niêm phong trong phong bì số 157, có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy các vật chứng này.
[3] Ý kiến của các bị cáo:
Các bị cáo đều thống nhất với tội danh, điểm, khoản, điều luật, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng và không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Những người chứng kiến anh Trần Quốc D, anh Lê Xuân H1 S vắng mặt nhưng đều đã trình bày ý kiến, xác nhận đầy đủ trong hồ sơ vụ án; đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh và tất cả người tham gia tố tụng đều đề nghị tiếp tục xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người chứng kiến này là phù hợp.
[2] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai thắc mắc, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên. Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó hoạt động tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp.
[3] Về thẩm quyền giải quyết:
Các bị cáo bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), có mức hình phạt cao nhất đến 07 năm tù, là thuộc tội phạm nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tội phạm được thực hiện trên địa bàn huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[4] Về định tội danh; tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt:
[4.1] Về định tội danh:
Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án; do đó có đủ căn cứ xác định các bị cáo đã thực hiện hành vi như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 23/01/2024, bị cáo Đặng Huỳnh S rủ bị cáo Mang S2 cùng góp mỗi người 100.000đồng để mua ma túy về sử dụng thì bị cáo S2 đồng ý. Bị cáo S điều khiển xe mô tô biển số 86Y1-4138 đến khu vực nghĩa trang L3 ở thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận gặp một người tên B1 (không rõ nhân thân lai lịch) mua 01 tép ma túy với giá 200.000đồng. Sau đó cả hai bị cáo đến nhà ông Nguyễn L2 ở thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận – Là nơi bị cáo S2 đang ở. Tại đây, bị cáo S2 lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 cây kéo màu bạc, làm bằng kim loại; rồi cả hai đi đến khu vực nghĩa địa ở thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Sau khi đến khu vực nghĩa địa, S2 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra, dùng kéo cắt tép ma túy đổ vào bộ dụng cụ nhưng do lỗ cắt nhỏ, không đổ được ma túy nên S lấy tép ma túy, dùng răng cắn tạo lỗ to hơn rồi đổ ma túy vào bộ D1; S tự dùng bật lửa đốt ma túy và cầm cho S2 sử dụng; Sinh sử dụng ma túy xong thì S tự đốt sử dụng ma túy; mỗi bị cáo sử dụng được khoảng 05 lượt thì hết ma túy. Sau đó, S2 bỏ bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào túi áo khoác của S2, rồi cả hai về lại nhà ông L2; S2 đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho S cất giấu ở chân giường, rồi cả hai nằm ngủ. Đến khoảng 07 giờ, ngày 24/01/2024, Công an xã Đ tiến hành kiểm tra nhà ông L2 thì phát hiện. Qua làm việc, điều tra, các bị cáo đã khai nhận hành toàn bộ vi phạm tội.
Các bị cáo Đặng Huỳnh S, Mang S2 đều là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức được tác hại của việc sử dụng ma túy và hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật; thế nhưng chỉ vì thỏa mãn ham muốn của bản thân; các bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách, chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; cố ý thực hiện hành vi góp tiền mua chất ma túy, chuẩn bị dụng cụ và cung cấp dụng cụ để cùng sử dụng trái phép chất ma túy “Methamphetamine” (Theo Bản kết luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B). Do đó hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện T, tỉnh Bình Thuận truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[4.2] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo; do đó, các bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo S tham
gia nghĩa vụ quân sự từ năm 2020 đến năm 2022 thì xuất ngủ; gia đình bị cáo Mang S2 thuộc hộ cận nghèo (theo Giấy xác nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo số 396/GCN-HN-HCN ngày 10/01/2023 của Ủy ban nhân dân xã Đ); do đó cần xem xét cho các bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phù hợp.
[4.3] Về quyết định hình phạt:
Hành vi các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn công cộng tại địa phương; gây bất bình, hoang mang trong quần chúng nhân dân, đặc biệt là trong tình hình các tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng như hiện nay. Vì vậy cần phải xử phạt các bị cáo thật nghiêm minh theo quy định của pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian phù hợp, để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt là phù hợp.
Bị cáo S là người khởi xướng, rủ rê bị cáo S2 cùng góp tiền mua ma túy về sử dụng, cũng là người trực tiếp đi mua ma túy về cùng sử dụng. Bị cáo Mang S2 đã đồng ý, tham gia, cung cấp công cụ cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo S có tính chất, mức độ, vai trò quan trọng, tích cực hơn so với bị cáo S2. Vì vậy cần xử phạt bị cáo S với mức án cao hơn bị cáo S2 là phù hợp với với tính chất, mức độ hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, nhân thân của từng bị cáo và phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Về vật chứng:
Các vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 vật làm bằng kim loại, có hình dạng như chiếc kéo, có ghi dòng chữ JAGUAR, dài 17cm; 01 chai nhựa có dán giấy ghi dòng chữ “Cốm-Canxi Meko”, cao khoảng 8cm, có nắp màu trắng được đục 02 lỗ, một lỗ có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phòng 01 đầu và 01 gói nylon không màu, hở một đầu, được niêm phong trong phong bì số 157, có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình đấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B. Các vật chứng này đều là công cụ phạm tội. Do đó cần căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử tịch thu và tiêu hủy các vật chứng này.
[5] Về án phí:
Cần căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử buộc các bị cáo Đặng Huỳnh S, Mang S2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh:
Căn cứ vào Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố các bị cáo Đặng Huỳnh S, Mang S2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
[2] Về hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Đặng Huỳnh S 02 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam - Ngày 22/02/2024.
Xử phạt bị cáo Mang S2 02 (năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam - Ngày 22/02/2024.
[3] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 vật làm bằng kim loại, có hình dạng như chiếc kéo, có ghi dòng chữ JAGUAR, dài 17cm; 02 chai nhựa có dán giấy ghi dòng chữ “Cốm-Canxi Meko”, cao khoảng 8cm, có nắp màu trắng được đục 02 lỗ, một lỗ có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phòng 01 đầu, 01 gói nylon không màu, hở một đầu, được niêm phong trong phong bì số 157, có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình đấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B (Tất cả các vật chứng này hiện đều đang được giữ, bản quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/03/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh - Bút lục 150).
[4] Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: buộc các bị cáo Đặng Huỳnh S, Mang S2 mỗi bị cáo có nghĩa vụ nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo:
Án xử sơ thẩm công khai; các bị cáo đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án - Ngày 15/05/2024. (Đã giải thích quyền kháng cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Khánh |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Huỳnh S và đồng bọn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
