Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày 14/08/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN – TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Cói

Bà Hà Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLST - HS ngày 12 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 07 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 20 ngày 17/07/2024, đối với bị cáo:

Vì Thị Hương V, sinh ngày 08/08/2004 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản P, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: Tiểu khu B, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Hữu H và bà Vì Thị X; Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 25/01/2024 cho đến nay. Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Hà Văn H1. Sinh năm 2004. Địa chỉ: Bản D, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La.
  2. Anh Bùi Hồng P. Sinh năm 2005. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  3. Anh Lê Tuấn A. Sinh năm 2006. Địa chỉ: Bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  4. Anh Nguyễn Chí T. Sinh năm 2006. Địa chỉ: Tiểu khu E, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  5. Chị Mè Ngọc D. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  6. Anh Hà Anh V1. Sinh năm 2007. T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  7. Chị Giàng Thị N. Sinh năm 1996. Địa chỉ: Bản D, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La.
  8. Anh Vì Hoàng H2. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  9. Anh Hà Văn L. Sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản D, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La.
  10. Anh Trần Quang T1. Sinh năm 2007. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  11. Anh Hoàng Quốc V2. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  12. Anh Lường Tuấn T2. Sinh năm 2007. Địa chỉ: Bản B, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La.
  13. Chị Lường Thị X1. Sinh năm 2007. Địa chỉ: Bản B, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La.
  14. Chị Nguyễn Thị Hoài P1. Sinh năm 2007. Địa chỉ: Bản B, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La.
  15. Chị Mong Thị Lệ Q. Sinh năm 2006. Địa chỉ: Bản A, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La.
  16. Anh Hà Văn K. Sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản D, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La.
  17. Chị Hà Thị Khánh L1. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  18. Chị Hoàng Thị Kim N1. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  19. Anh Hà Thế A1. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  20. Anh Vì Văn T3. Sinh năm 1998. Địa chỉ: Bản P, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La.
  21. Anh Lường Văn T4. Sinh năm 2007. Địa chỉ: Tiểu khu B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  22. Anh Trương Gia B. Sinh năm 2006. Địa chỉ: Tiểu khu B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  23. Anh Hà Mạnh K1. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
  24. Chị Lường Thị Mai C. Sinh năm 2008. Địa chỉ: Bản L, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.

* Người làm chứng: Anh Mùi Văn D1. Sinh năm: 2002. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.

Tại phiên toà vắng mặt người làm chứng và vắng mặt tất cả người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu năm 2021, Vì Thị Hương V, sinh năm 2004 và chồng là Mùi Văn D1, sinh năm 2002, cùng ở tiểu khu B, thị trấn Lâm Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La xuống Hà Nội chơi thì có gặp và quen với Nguyễn Văn V3 ở xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Quá trình nói chuyện, Võ đặt vấn đề với V và D1 về việc cần mua hoặc thuê nhiều tài khoản ngân hàng để sử dụng. Sau đó, V đã lập 01 tài khoản ngân hàng B1, D1 lập 01 tài khoản ngân hàng M để bán cho V3 và được Võ chi trả 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng)/01 tài khoản. Nhận thấy việc mua bán tài khoản ngân hàng có thể đem lại nguồn lợi nhuận cao nên V thỏa thuận với V3 sẽ thu thập các thông tin tài khoản ngân hàng để bán cho V3 với giá 5.000.000 đồng/01 tài khoản, trong đó: Giá trị của mỗi tài khoản là 4.000.000 đồng và tiền quản lý, duy trì hoạt động, đảm bảo các tài khoản không bị rút tiền là 1.000.000 đồng/01 tài khoản. Sau khi thống nhất, V đã vận động những người thân quen và một số học sinh trên địa bàn huyện M và huyện V, tỉnh Sơn La đăng ký tài khoản ngân hàng, giao cho V để bán, mỗi tài khoản V sẽ trả số tiền 4.000.000 đồng cho người đứng tên lập, còn được hưởng lợi 1.000.000 đồng tiền quản lý tài khoản.

Khi được Cơ quan điều tra triệu tập để làm việc, Vì Thị Hương V khai nhận đã thu thập các tài khoản ngân hàng của 28 người, sau đó bán các tài khoản cho Nguyễn Văn V3. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã sao kê tài khoản ngân hàng M1 số 0346835931 của V và xác định V đã nhận được số tiền 158.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng M1 mang tên “Vi Van Thu” (V khai số tiền này do Võ chuyển đến, trong đó, có 20.000.000 đồng là V3 nhờ V chuyển lại cho Mùi Văn D1; số còn lại là tiền mua các tài khoản ngân hàng và một số khoản tiền do V xin thêm của V3). Sau khi nhận được tiền, V đã chi trả cho 28 người đứng tên chủ các tài khoản ngân hàng số tiền 106.300.000 đồng. V hưởng lợi số tiền 35.700.000đ.

Trên cơ sở lời khai của V, Cơ quan điều tra đã xác minh, triệu tập những người lập, bán tài khoản ngân hàng cho V để làm việc nhưng chỉ xác định được 24 người (Có danh sách kèm theo), trong đó có 22 người có đăng ký lập tài khoản tại các ngân hàng, riêng Hà Mạnh K1, Lường Thi Mai C1 thừa nhận đã lập và bán tài khoản ngân hàng BIDV cho V nhưng không có thông tin trên hệ thống. Những người còn lại không có thông tin cư trú hoặc không có mặt tại địa phương, không xác định được ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc được.

Cụ thể V đã chi trả cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền như sau: Anh Hà Văn H1. Sinh năm 2004. Địa chỉ: Bản D, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Anh Bùi Hồng P. Sinh năm 2005. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Anh Lê Tuấn A. Sinh năm 2006. Địa chỉ: Bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Anh Nguyễn Chí T. Sinh năm 2006. Địa chỉ: Tiểu khu E, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Chị Mè Ngọc D. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Anh Hà Anh V1. Sinh năm 2007. T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Chị Giàng Thị N. Sinh năm 1996. Địa chỉ: Bản D, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La. Số tiền 3.000.000đ; Anh Vì Hoàng H2. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Anh Hà Văn L. Sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản D, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La. Số tiền 3.000.000đ; Anh Trần Quang T1. Sinh năm 2007. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Anh Hoàng Quốc V2. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Anh Lường Tuấn T2. Sinh năm 2007. Địa chỉ: Bản B, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Chị Lường Thị X1. Sinh năm 2007. Địa chỉ: Bản B, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Chị Nguyễn Thị Hoài P1. Sinh năm 2007. Địa chỉ: Bản B, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 3.000.000đ; Chị Mong Thị Lệ Q. Sinh năm 2006. Địa chỉ: Bản A, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Anh Hà Văn K. Sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản D, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Chị Hà Thị Khánh L1. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Chị Hoàng Thị Kim N1. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Anh Hà Thế A1. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Anh Vì Văn T3. Sinh năm 1998. Địa chỉ: Bản P, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 1.800.000đ; Anh Lường Văn T4. Sinh năm 2007. Địa chỉ: Tiểu khu B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 3.500.000đ; Anh Trương Gia B. Sinh năm 2006. Địa chỉ: Tiểu khu B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Anh Hà Mạnh K1. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Chị Lường Thị Mai C1. Sinh năm 2008. Địa chỉ: Bản L, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000đ; Riêng Hà Mạnh K1, Lường Thi Mai C1 thừa nhận đã lập và bán tài khoản ngân hàng BIDV cho V nhưng không có thông tin trên hệ thống.

Bản cáo trạng số: 24/CT-VKSNX ngày 12/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố Vì Thị Hương V4 về tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hoá trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo khoản 1 Điều 291 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vì Thị Hương V4 giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Tại phiên toà những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Vì Thị Hương V4 đủ yếu tố cấu thành tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hoá trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Vì Thị Hương V4 phạm tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hoá trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 4 Điều 291; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 36 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Vì Thị Hương V4 với mức án từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 15 Đến 20 triệu đồng.

Đề nghị truy thu số tiền bị cáo đã thu lời bất chính từ hành vi Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hoá trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng.

Truy thu toàn bộ số tiền mà những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thu lời bất chính từ hành vi bán tài khoản cho bị cáo.

Bị cáo thống nhất không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên từ khoảng tháng 01/2021 đến tháng 9/2023, Vì Thị Hương V4 đã thu thập, tàng trữ thông tin về tài khoản ngân hàng của 24 của người, sau đó bán các thông tin này để thu lời bất chính. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với nội dung của bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Bị cáo Vì Thị Hương V4 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi thu thập, tàng trữ thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác, sau đó trao đổi, mua bán các thông tin này để thu lời bất chính là trái pháp luật, hành vi của bị cáo trực tiếp xâm hại tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hoá trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng quy định tại khoản 1 Điều 291 Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự. Do đó cần phải có hình phạt tương xứng đối với hành vi của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa và giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Về nhân thân: Bị cáo Vì Thị Hương V4 có nhân thân tốt. Tiền án, Tiền sự: Không.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Vỳ Thị Hương V5 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định điểm i, s khoản 1 điều 51 BLHS.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về hình phạt:

[6.1] Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội. Trên cơ sở xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Để đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung nhưng đồng thời cũng để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 BLHS, bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà tạo điều kiện để bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo cải tạo trở thành công dân lương thiện.

Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo Vỳ Thị Hương V5 hiện là lao động tự do, không có công việc, thu nhập ổn định và hiện tại đang nuôi hai con nhỏ nên việc xem xét miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp.

[6.2] Mặc dù bị cáo Vỳ Thị Hương V5 phạm tội ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nhằm mục đích thu lời bất chính. nên HĐXX xét thấy đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo của đại diện viện kiểm sát là có cơ sở, cần được chấp nhận.

[7] Về việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp:

Về việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng vụ án:

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6sPlus màu hồng, bên trong gắn thẻ sim số: 0326130460 thu giữ của Mùi Văn D1. Quá trình điều tra xác định, chiếc điện thoại trên không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại cho chủ sở hữu. Nên HĐXX không xem xét.

- Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 13 màu xanh: Đây là chiếc điện thoại Bị cáo V5 khai sử dụng để liên lạc, thực hiện việc thu thập, tàng trữ, mua bán tài khoản ngân hàng nhưng bị cáo đã bán cho người khác (không xác định được đã bán cho ai) nên không thu giữ được. Do đó HĐXX không xem xét.

Biện pháp tư pháp:

- Đối với toàn bộ số tiền mà V5 thu lời bất chính từ hành vi thu thập, tàng trữ, mua bán các tài khoản ngân hàng cần truy thu để sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với những người liên quan đã lập, bán tài khoản ngân hàng cho V5 để thu lời bất chính cần truy thu số tiền từ những người này để sung vào ngân sách nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với Mùi Văn D1: Trong vụ án này Mùi Văn D1 là chồng của Vì Thị Hương V4 cũng tham gia hoạt động thu thập, tàng trữ các tài khoản ngân hàng cùng với V4 nhưng hoạt động thu thập, tàng trữ, bán các thông tin tài khoản ngân hàng của D1V4 độc lập với nhau, V4D1 không đồng phạm với nhau. Quá trình điều tra xác định từ năm 2021 đến tháng 09/2023, D1 đã thu thập được 10 tài khoản ngân hàng của người khác để bán nhưng chưa làm rõ được số tiền D1 thu lời bất chính nên chưa có đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với D1 (số lượng tài khoản ngân hàng Dần thu thập được nhỏ hơn 20 tài khoản).

Đối với Nguyễn Văn V3 là người V4D1 khai đã mua, trả tiền duy trì các tài khoản ngân hàng mà V4D1 thu thập được. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh thông tin cá nhân, triệu tập V3 để làm việc nhưng Võ không có mặt tại địa phương, không xác định được hiện đang ở đâu; Cơ quan điều tra cũng chưa thu thập được các tài liệu chứng cứ khác để chứng minh hoạt động mua, bán thông tin tài khoản ngân hàng của V3, chưa đủ căn cứ để xử lý.

Hiện Cơ quan điều tra đã tách vụ án hình sự đối với hành vi của Mùi Văn D1, Nguyễn Văn V3 để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ. Khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật. Nên HĐXX không xem xét trong vụ án này.

Đối với những người đứng tên, lập, đăng ký và cung cấp tài khoản ngân hàng cho Vì Thị Hương V4Mùi Văn D1 bán, là hành vi vi phạm hành chính; sự việc các đối tượng này mở tài khoản ngân hàng mang tên mình để bán hoặc cho thuê xảy ra tại địa bàn huyện M và huyện V tỉnh Sơn La. Do đó, Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Công an huyện M và huyện V, tỉnh Sơn La để xử phạt hành chính về hành vi “Cho thuê, cho mượn từ 01 tài khoản thanh toán đến dưới 10 tài khoản thanh toán” quy định tại điểm a, khoản 5, điều 26, Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng theo quy định.

[9] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người bị kết án nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 4 Điều 291; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 36 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào: Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; các điểm a, c khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên bố: Bị cáo Vì Thị Hương V4 phạm tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hoá trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”

Xử phạt: Bị cáo Vì Thị Hương V4 14 (Mười bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Sơn La giám sát giáo dục trong thời gian bị cáo Vì Thị Hương V4 chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Về khấu trừ thu nhập: Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Vì Thị Hương V4.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại luật thi hành án hình sự.

* Về hình phạt bổ sung : Xử phạt bị cáo Vì Thị Hương V4 số tiền 20.000.000(Hai mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

* Biện pháp tư pháp:

- Truy thu của bị cáo Vỳ Thị Hương V5 số tiền 35.700.000 (Ba mươi lăm triệu, bảy trăm nghìn) đồng sung vào ngân sách nhà nước.

- Truy thu của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm:

Truy thu của Anh Hà Văn H1. Sinh năm 2004. Địa chỉ: Bản D, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000 (Bốn triệu) đồng; Anh Bùi Hồng P. Sinh năm 2005. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000 (Bốn triệu) đồng; Anh Lê Tuấn A. Sinh năm 2006. Địa chỉ: Bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Anh Nguyễn Chí T. Sinh năm 2006. Địa chỉ: Tiểu khu E, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Chị Mè Ngọc D. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Anh Hà Anh V1. Sinh năm 2007. T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Chị Giàng Thị N. Sinh năm 1996. Địa chỉ: Bản D, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La. Số tiền 3.000.000(Ba triệu) đồng; Anh Vì Hoàng H2. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Anh Hà Văn L. Sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản D, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La. Số tiền 3.000.000(Ba triệu) đồng; Anh Trần Quang T1. Sinh năm 2007. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Anh Hoàng Quốc V2. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Anh Lường Tuấn T2. Sinh năm 2007. Địa chỉ: Bản B, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Chị Lường Thị X1. Sinh năm 2007. Địa chỉ: Bản B, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Chị Nguyễn Thị Hoài P1. Sinh năm 2007. Địa chỉ: Bản B, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 3.000.000(Ba triệu) đồng; Chị Mong Thị Lệ Q. Sinh năm 2006. Địa chỉ: Bản A, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Anh Hà Văn K. Sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản D, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Chị Hà Thị Khánh L1. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Chị Hoàng Thị Kim N1. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Anh Hà Thế A1. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Anh Vì Văn Thư. Sinh năm 1998. Địa chỉ: Bản P, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 1.800.000(Một triệu, tám trăm nghìn) đồng; Anh Lường Văn T4. Sinh năm 2007. Địa chỉ: Tiểu khu B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 3.500.000(Ba triệu, năm trăm nghìn) đồng; Anh Trương Gia B. Sinh năm 2006. Địa chỉ: Tiểu khu B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000(Bốn triệu) đồng; Anh Hà Mạnh K1. Sinh năm 2006. Địa chỉ: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000 (Bốn triệu) đồng; Chị Lường Thị Mai C. Sinh năm 2008. Địa chỉ: Bản L, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Số tiền 4.000.000 (Bốn triệu) đồng.

Về án phí: Bị cáo Vỳ Thị Hương V5 phải nộp 200.000(Hai trăm nghìn) đồng án phí HSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/08/2024). Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ
  • - VKSND H.Như Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQĐT CA H.Như Xuân;
  • - UBND xã Lóng Sập, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La;
  • - Chi cục THADS H.Như Xuân;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN – TỈNH THANH HÓA về hình sự (tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hoá trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng)

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hoá trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN – TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vì Thị Hương V, phạm tội "Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hoá trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger