|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 22/2024/HSST Ngày: 14/8/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Đình Túy
- Bà Lê Hoàn Sinh; Nghề nghiệp: Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Đông Thịnh, huyện Đông Sơn, tỉnh thanh Hóa.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành- Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TL-HSST ngày 06 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Duy Đại L
sinh ngày 30 tháng 7 năm 2007. Tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Duy Tuấn A, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985;vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Chưa;
Hiện nay bị cáo đang đang chấp hành Quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp cho Lê Duy Đại L là: Ông Trương Sỹ T1, sinh năm 1964 (là ông cậu của bị cáo).
Nơi ở hiện nay: Số nhà B, P, phường Q, TP ..
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc T2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).
Địa chỉ: Số C, Đại lộ L, phường Đ, TP T, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị hại:
- Ông Lê Duy S, sinh năm 1956 (vắng mặt)
- Bà Trương Thị L1, sinh năm 1960 (vắng mặt)
- Anh Lê Duy Tuấn A, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền mua xe mô tô nên khoảng 13h30 phút ngày 10/3/2024, Lê Duy Đại L đã nảy sinh ý định lấy trộm tiền của gia đình mình. Lợi dụng lúc gia đình đi sang nhà ông T1 ở phường Q, thành phố T đi ăn giỗ, không còn ai ở nhà nên L đi xuống bếp nhà mình lấy kìm và đi lên tầng 3 để cắt dây cáp mạng nhằm vô hiệu hóa các mắt camera an ninh đang hoạt động. Sau khi cắt dây mạng xong, L đi xuống tầng 1 và bỏ kìm vào túi đồ ở gầm cầu thang sau đó đi chơi.
Đến 16 giờ 40 phút cùng ngày, L đi về nhà và lên phòng ngủ ở tầng 2 của ông Lê Duy Tuấn A, sinh năm 1984, (là bố đẻ của L) mở vali lấy 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc, 01 nhẫn tròn bằng kim loại màu vàng và 01 xấp tiền không biết cụ thể bao nhiêu. Sau đó L giắt tiền vào thắt lưng, cầm nhẫn và dây chuyền đi xuống tầng 1. Khi xuống tầng 1, L đi vào phòng ngủ của ông Lê Duy S, sinh năm 1956 và bà Trương Thi L2, sinh năm 1960 – là ông bà nội của L. Do biết ông nội thường cất tiền trong cặp số đã hỏng số mà chỉ dùng dây thép để buộc nên L lấy kìm ở gầm cầu thang đã dùng để cắt dây mạng trước đó để cắt dây thép buộc vali. Sau đó, L mở vali lấy 02 cọc tiền trong đó: 01 cọc tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 cọc tiền mệnh giá 500.000đồng, cụ thể bao nhiêu L không biết.
Sau khi lấy tiền của ông S xong, L lấy chìa khóa két sắt đang treo trên tủ (cạnh két sắt), do biết mã số mở két sắt từ trước nên L đã mở két sắt và lấy 01 cọc tiền gồm các mệnh giá khác nhau, cụ thể bao nhiêu L không biết. Sau đó, L bỏ tất cả tiền, dây chuyền, nhẫn vào ba lô màu trắng, đen và để trong thùng bánh kẹo tại phòng ngủ của ông S, bà L2 và lấy quần áo để lên trên balô để giấu không cho ai biết. Sau đó L đóng cửa lại và đi xuống nhà ông T1, ở phường Q, TP. ăn giỗ cùng với gia đình. Khi đến nơi, L gặp bà L2 và nói: “Bà có mở két của bà không? Bà hỏi cô T3 có mở không? Cháu thấy ca táp của ông bấm mở tung ra, giấy tờ của ông nội rơi ra ngoài rồi”. Nghe vậy, ông Tuấn A, chị T3, ông S, bà L2 đi về nhà kiểm tra tài sản, còn L vẫn ở nhà ông T1. Sau đó, ông Tuấn A đã báo cáo vụ việc lên Cơ quan Công an điều tra, làm rõ.
Biết không thể che dấu hành vi phạm tội nên ngày 11/3/2024, L đã đến Công an xã Đ để đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình và giao nộp cho
Cơ quan Công an 89.000.000₫ (T4 mươi chín triệu đồng), 01 nhẫn tròn màu vàng và 01 dây chuyền màu trắng bạc.
Tại bản kết luận giám định số 1322/KL-KTHS ngày 02/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “276 tờ tiền Việt Nam nêu ở mục II.1 (mẫu cần giám định) là tiền thật”.
Tại bản kết luận giám định số 2309/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của V Bộ C kết luận:
- -01 nhẫn bằng kim loại màu vàng dạng tròn, trơn đã bị méo (ký hiệu T1) gửi giám định có khối lượng 1,87 gam là vàng (Au), hàm lượng Au là 99,54%
- 01dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc, chế tác dạng mắt xích nối với nhau (ký hiệu T2) gửi giám định có tổng khối lượng 10,58 gam là hợp kim của bạc (Ag), đồng (Cu), kẽm (Z), hàm lượng trung bình là 91, 96%)”.
Ngày 16/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ tiến hành định giá số tài sản do L trộm cắp gồm: 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu vàng dạng tròn, trơn đã bị méo có khối lượng 1,87 gam là vàng (Au), hàm lượng Au là 99,54% và01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc, chế tác dạng mắt xích nối với nhau có tổng khối lượng 10,58 gam là hợp kim của bạc (Ag), đồng (Cu), kẽm (Z), hàm lượng trung bình là 91, 96%).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 126/KL-HĐĐGTS ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Đ kết luận:
- - 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng dạng tròn, trơn đã bị méo có khối lượng 1,87 gam là vàng (Au), hàm lượng Au là 99,54% có giá trị là 3.510.000₫ (ba triệu năm trăm mười nghìn đồng)
- - 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc, chế tác dạng mắt xích nối với nhau có tổng khối lượng 10, 58 gam là hợp kim của bạc (A1), đồng (Cu), kẽm (Z). Hàm lượng trung bình là 91, 96% có giá trị là 220.000đ (hai trăm hai mươi nghìn đồng)
Tổng số tiền là: 3.730.000 đồng (Ba triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng)”.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ gồm:
- - 01 chiếc kìm bằng kim loại, dài 20 cm, cán bọc nhựa.
- - 01 ba lô học sinh màu trắng đen
- - 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng dạng tròn
- - 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc
- - 89.000.000 đồng (tám mươi chín triệu đồng)
Đối với tài sản gồm: 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng dạng tròn, 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc và 10.000.000 (mười triệu đồng), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Duy Tuấn A.
Đối với số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu đồng), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Lê Duy S.
Đối với số tiền 39.000.000 (ba mươi chín triệu đồng), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Trương Thị L1.
Đối với chiếc kìm và ba lô, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn đã ra quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về phần dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án đến nay, anh Lê Duy Tuấn A và gia đình không có yêu cầu, đề nghị gì thêm đối với bị cáo L.
Tại bản cáo trạng số 21/Ctr - KSĐT ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Duy Đại L về tội ‘"Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90, Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Duy Đại L từ 24 đến 26 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 52 tháng.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo đang là học sinh không có thu nhập. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng: điêm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 chiếc kìm bằng kim loại, dài 20 cm, cán bọc nhựa.
- - 01 ba lô học sinh màu trắng đen.
Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh như cáo trạng truy tố. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn bố mẹ bị cáo ly hôn khi bị cáo còn nhỏ, mẹ bị cáo đi lấy chồng, bố bị cáo đi làm xa, bị cáo phải ở với ông bà
nội. Bị cáo phạm tội khi bị cáo chưa đủ tuổi thành niên, sự hiểu biết còn hạn chế về năng lực hành vi lúc phạm tội. Nên Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Đ,Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòacác bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Qua xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 10/3/2024 tại thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa, do muốn có tiền mua xe mô tô nên Lê Duy Đại L đã trộm cắp tài sản của gia đình mình 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng dạng tròn, 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc và 89.000.000 đồng (tám mươi chín triệu đồng). Tổng trị giá tài sản mà L đã trộm cắp là 92.710.000 đồng (chín mươi hai triệu bảy trăm mười nghìn đồng).
[3] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Do đó cáo trạng và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của Lê Duy Đại L phạm tội ‘”Trộm cắp tài sản”theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[4] Xét tính chất, mức độ của tội phạm: Hành vi Lê Duy Đại L đang tuổi vị thành niên, nhận thức chưa đầy đủ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân do đó cần được đưa ra xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.
[5]Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo :
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Duy Đại L không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, tuy tố và tại phiên tòa bị cáo khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo phạm tội
khi bị cáo chưa đủ tuổi thành niên, do sự phát triển con người về sinh học và xã hội chưa đầy đủ nên sự hiểu biết còn hạn chế về năng lực hành vi lúc phạm tội. Do đó nên áp dụng các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội. Xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương, giám sát giáo dục cũng đủ để các bị cáo trở thành công dân tốt.
[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo đang là học sinh không có thu nhập. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng: Áp dụng: khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 chiếc kìm bằng kim loại, dài 20 cm, cán bọc nhựa.
- - 01 ba lô học sinh màu trắng đen.
[8] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị hại anh Lê Duy Tuấn A, ông Lê Duy S và bà Trương Thị L1 đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy Đại L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ : điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90, Điều 91 ; Điều 98; Điều 101 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23, Khoản I mục 1 Danh mục án phí, lệ phí (ban hành kèm theo nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016) của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Xử phạt :
Bị cáo Lê Duy Đại L 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Duy Đại L cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về bồi thường dân sự: Công nhận phần dân sự đã giải quyết xong.
Về vật chứng: Áp dụng: khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
- - 01 chiếc kìm bằng kim loại, dài 20 cm, cán bọc nhựa.
- - 01 ba lô học sinh màu trắng đen
Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án Dân sự huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/6/2024 giữa cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí: Buộc Lê Duy Đại L phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Hà |
Bản án số 22/2024/HSST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 22/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
