|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày: 14-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Vĩnh Lâm
- Bà Nguyễn Ngọc Nhuận
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hiếu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tý – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2023/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Võ Văn K Tên gọi khác: Chanh; Sinh ngày 18/3/1989; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: 24A/TB, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con của ông Võ Ngọc H năm 1966 (đã chết) và bà Nguyễn Kim H1 năm 1961 (đã chết); Giới tính: Nam; Sống chung như vợ chồng, không đăng ký kết hôn với Y B và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2014, sau đó không tiếp tục chung sống với Y B Từ năm 2018 đến năm 2023 chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Thùy D năm 1990, có 01 con chung sinh năm 2022; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/02/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện T (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
- + Anh Nguyễn Thanh H2 sinh năm: 2003. Nơi cư trú: ấp K, xã H, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt)
- + Ông Phạm Văn L năm: 1975. Nơi cư trú: ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Bá H2 năm: 1977. Nơi cư trú: ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt).
- + Anh Phạm Minh P năm: 1987. Nơi cư trú: ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Hữu P1 sinh ngày: 01/02/1981. Nơi cư trú: 29C, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Hiện đã đi chấp hành án hình sự (Vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 06/10/2023, Võ Văn K Lê Hữu P1 cùng qua địa bàn tỉnh Long An để trộm chó bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, P1 đồng ý. Đến 22 giờ 30 phút ngày 06/10/2023, K1 bị dụng cụ để trộm chó gồm: 01 bình Acquy 250Ampe, 01 cục kích điện, 01 dụng cụ tự chế để bắn mũi chĩa, 02 mũi chĩa nhọn tự chế có đầu kim loại và có dây điện kết nối vào mũi chĩa. Sau đó, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Anpha màu đỏ, biển số 66L3-9879 mang theo dụng cụ bắn trộm chó đến đậu xe tại nhà của P1 thuộc ấp P, xã T, Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Sau đó, P1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đỏ-đen, gắn biển số giả 63B4-33767 (biển số thật 66S1-16334) chở K2 phía sau cầm theo dụng cụ kích điện để bắn trộm chó lưu thông từ nhà của P1 đến địa bàn huyện T, tỉnh Long An Khi đến đường đan bờ tây K thuộc xã H, T, L P1 và K nhìn thấy 01 con chó lông màu vàng - đen - trắng, trọng lượng 16,5 kg của anh Nguyễn Thanh H3 đang đứng trước lộ cạnh nhà anh H3, K dùng dụng cụ mang theo bắn chết con chó. P1 dừng xe lại, K3 xe lấy con chó bỏ vô bọc nylon màu đen để lên baga xe.
Sau đó, P1 tiếp tục điều khiển xe chở K lưu thông đến đoạn đường thuộc ấp H, xã B, T, Long An thì P1 và K nhìn thấy 01 con chó màu lông trắng - đen, trọng lượng 09 kg của anh Phạm Văn L1 đứng trên lộ trước nhà anh L2 dùng dụng cụ mang theo bắn chết con chó. P1 dừng xe lại, K3 xe lấy con chó bỏ vào bọc nylon màu đen để lên ba ga xe. P1 tiếp tục điều khiển xe mô tô lưu thông được một đoạn thì nhìn thấy 01 con chó lông màu đen, ức trắng trọng lượng 18 kg của anh Nguyễn Bá H4 đang đứng trên đường trước nhà anh H5 tục dùng dụng cụ mang theo bắn chết con chó và xuống xe lấy bỏ vào bọc nylon màu đen để lên xe. P1 tiếp tục điều khiển xe mô tô đi khoảng 100m thì thấy con chó lông màu vàng, trọng lượng 16kg của anh Phạm Minh P1 đang đứng cặp lộ trước nhà anh PP1 chạy xe lại gần cho K4 dụng cụ mang theo bắn chết con chó, K xuống xe lấy bỏ vào bọc nylon màu đen để lên baga xe. Ngay lúc sau đó, P1 và K bị anh P2 hiện truy hô người dân và cùng Công an xã B1, huyện T truy đuổi bắt quả tang P1 và tang vật, K chạy thoát và trốn khỏi địa phương. Đến ngày 12/02/2024, K5 về địa phương thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tạm giam. Qua điều tra K6 nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 53/KL-HĐĐG ngày 07 tháng 10 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 con chó lông màu vàng – đen – trắng, trọng lượng 16.5kg, đã chết, trị giá 825.000 đồng; 01 con chó lông màu vàng, trọng lượng 16kg, đã chết, trị giá 800.000 đồng; 01 con chó lông màu đen ức lông trắng, trọng lượng 18kg, đã chết, trị giá 900.000 đồng; 01 con chó lông màu trắng đen, trọng lượng 09kg, đã chết, trị giá 450.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản là: 2.975.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 20/CT-VKSTT, ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo Võ Văn K7 về tội “Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo đồng thời phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Võ Văn K8 ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Văn K7 từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản".
Về vật chứng trong vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự, Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự, đề nghị giao trả cho bị cáo K01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Anpha, màu sơn đỏ-đen, số máy: 09E8035645, số khung: 09017Y035645, gắn biển số 66L3-9879 do không dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với vật chứng là phương tiện, công cụ sử dụng phạm tội: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đỏ đen, số máy 1S9A033229, số khung RLCE1S9408Y033229, gắn biển số 63B4-33767; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia, màu đen, số sê ri 1: 356943091772930, số sê ri 2: 356943096772935, bên trong có gắn sim số 0907983981, đã qua sử dụng, tất cả là tài sản hợp pháp của Lê Hữu P3 đã sử dụng làm phương tiện phạm tội; 01 chĩa tự chế bằng kim loại, dài 53 cm, cán bằng gỗ, có 02 mũi chĩa bằng kim loại có gắn dây dẫn điện, có quấn keo đen trên thân chĩa, đây là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, các vật chứng nêu trên đã được xem xét xử lý theo Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An nên đại diện Viện kiểm sát không đề nghị xử lý.
Về hình phạt bổ sung: đại diện Viện kiểm sát không đề nghị.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và hứa cải tạo thành người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, các bị hại Nguyễn T H2 Phạm Văn L Nguyễn Bá H3, Phạm Minh P1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Lê Hữu P3 vắng mặt nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên tòa bị cáo Võ Văn K7 khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định được như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/10/2023, Lê Hữu P1 và Võ Văn K9 dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý chó nuôi trong gia đình nên đã 04 lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp, cụ thể như sau: trộm 01 con chó lông màu vàng - đen - trắng, trọng lượng 16,5 kg, trị giá 825.000 đồng của anh Nguyễn Thanh H6 ấp K, H, T, Long An; 01 con chó màu lông trắng – đen, trọng lượng 09 kg, trị giá 450.000 đồng của anh Phạm Văn L3 ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Long An 01 con chó lông màu đen, ức trắng trọng lượng 18 kg, trị giá 900.000 đồng của anh Nguyễn Bá H7 ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Long An 01 con chó lông màu vàng, trọng lượng 16 kg, trị giá 800.000 đồng của anh Phạm Minh P1 tại ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Long An. Tổng cộng giá trị tài sản là 2.975.000 đồng.
Xét thấy, tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo Võ Văn K7 nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo Võ Văn K7 và đồng phạm là Lê Hữu P1 liên tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 04 lần trong đêm ngày 06/10/2023 đến rạng sáng ngày 07/10/2023 nên xác định là phạm tội liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian. Theo hướng dẫn tại Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính, cần tổng cộng các lần các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để xử lý trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Tổng giá trị tài sản bị cáo K và đồng phạm đã chiếm đoạt là 2.975.000 đồng. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[4] Bị cáo Võ Văn K7 đã cùng đồng phạm là Lê Hữu P1 cùng thống nhất ý chí, là đồng phạm trong thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, giữa bị cáo và K10 có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ, phân công vai trò của từng bị cáo nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An truy tố bị cáo Võ Văn K7 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm tài sản thuộc quyền quản lý, sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự địa phương, an toàn xã hội, gây bức xúc trong nhân dân. Trong tình hình hiện nay, tội phạm “Trộm cắp tài sản” nói riêng và các tội phạm nói chung có chiều hướng gia tăng. Hành vi của bị cáo đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến phong trào đấu tranh, phòng chống tội phạm của địa phương. Do đó, hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm theo quy định của pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trên cơ sở xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo.
[5.1] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có con nhỏ sinh năm 2022 nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
[5.3] Về vị trí, vai trò của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội:
Bị cáo được Lê H8 P1 điều khiển xe mô tô để chở K2 phía sau, K4 súng kích điện để bắn trộm chó nên là K11 P1 cùng là người thực hành khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
[5.4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[6] Trên cơ sở những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bản thân bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật, bị cáo đã cùng Lê Hữu P1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, khi bị bắt quả tang P1 bị bắt giữ, K12 thoát và bỏ trốn khỏi địa phương từ ngày 07/10/2023 đến ngày 12/02/2024 gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng, phải tách vụ án đối với K13 điều tra sau nhằm đảm bảo thời hạn tố tụng trong việc điều tra, khởi tố, truy tố, xét xử Lê Hữu P1 Đến ngày 12/02/2024 K14 trở về địa phương và bị bắt giữ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và nhằm đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.
[7] Từ những phân tích trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng căn cứ pháp luật, về hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về hình phạt bổ sung: theo quy định khoản 5 điều 173 BLHS, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[9] Về vật chứng trong vụ án:
[9.1] Đối với 01 con chó lông màu vàng - đen - trắng, trọng lượng 16,5kg là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Thanh H9 con chó lông màu đen, ức lông trắng, trọng lượng 18kg là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Bá H10 con chó lông màu trắng - đen, trọng lượng 09kg là tài sản hợp pháp của anh Phạm Minh P4 con chó lông màu vàng, trọng lượng 16kg là tài sản hợp pháp của anh Phạm Văn L4. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho các chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật.
[9.2] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đỏ đen, số máy 1S9A033229, số khung RLCE1S9408Y033229, gắn biển số 63B4-337.67; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia, màu đen, số sê ri 1: 356943091772930, số sê ri 2: 356943096772935, bên trong có gắn sim số 0907983981, điện thoại đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của L6 sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội; 01 chĩa tự chế bằng kim loại, dài 53 cm, cán bằng gỗ, có 02 mũi chĩa bằng kim loại có gắn dây dẫn điện, có quấn keo đen trên thân chĩa, đây là công cụ thực hiện hành vi phạm tội. Tất cả các vật chứng nêu trên đã được xem xét, quyết định xử lý theo Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An nên hiện nay không đề cập xử lý trong vụ án.
[9.3] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Anpha, màu sơn đỏ-đen, số máy: 09E8035645, số khung: 09017Y035645, gắn biển số 66L3-9879. Kết quả điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T do anh Huỳnh L5 H4 HKTT: Xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đứng tên chủ sở hữu. Anh H4 đã bán xe khoảng năm 2010 cho người đàn ông không rõ địa chỉ. Sau đó, K15 mua lại xe của một người đàn ông tên N rõ họ tên, địa chỉ để sử dụng. Vào ngày 06/10/2023, Võ Văn K16 khiển xe mô tô trên mang theo dụng cụ bắn trộm chó đến đậu xe tại nhà của Lê Hữu P3 sau đó P1 sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đỏ đen, số máy 1S9A033229, số khung RLCE1S9408Y033229, gắn biển số 63B4-337.67 của P1 để chở K17 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, xét thấy xe mô tô biển số 66L3-9879 của K10 dùng thực hiện hành vi phạm tội nên giao trả cho bị cáo K
[10] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi được tài sản mà K và P1 đã trộm cắp và đã trả lại tài sản cho các bị hại N Minh P Phạm Văn L và N bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đề cập giải quyết.
[11] Đối với Lê Hữu P3 đã cùng Võ Văn K18 phạm trong thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, P1 đã được xét xử tại Bản Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An nên hiện nay không đề cập xử lý trong vụ án.
[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Võ Văn K7 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt chính:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: bị cáo Võ Văn K7 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (12/02/2024).
- Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Võ Văn K7 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (14/5/2024) để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự, Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự;
Giao trả cho bị cáo Võ Văn K19 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Anpha, màu sơn đỏ-đen, số máy: 09E8035645, số khung: 09017Y035645, gắn biển số 66L3-9879.
Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 15/QĐ ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Võ Văn K20 chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Ánh |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Văn K7 phạm tội “Trộm cắp tài sản”
