TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Số: 22/2024/HNGĐ - ST Ngày 13 - 6 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư
Bà Hoàng Thị Hồng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 41/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Bích H, sinh năm 1989 (xin vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ A, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Bị đơn: Anh Trần Công T, sinh năm 1964 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Số F, ngõ B, đường N, tổ A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn - chị Hoàng Bích H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Công T đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 07/10/2010 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn hai người được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, không bị ép buộc. Từ khoảng cuối năm 2019 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, chửi nhau. Cũng từ cuối năm 2019, chị và anh T sống ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ chung sống. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án cho ly hôn với anh Trần Công T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Trần Công Hoàng Đ, sinh ngày 04/01/2011 và Trần Công Hoàng N, sinh ngày 23/7/2016. Hiện các con đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị đề nghị Toà án giao cả hai con chung cho chị tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay chị đang làm lao động tự do với mức thu nhập 10.000.000đồng/tháng, đủ điều kiện để nuôi dưỡng cả 02 con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn anh Trần Công T đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án và tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không đến Toà án làm việc và gửi văn bản trình bày ý kiến phản hồi về yêu cầu ly hôn, nuôi con chung của chị H đến Toà án.
Tại biên bản xác minh của Toà án với chị Trần Thị O, sinh năm 1971, địa chỉ: số nhà F, ngõ B đường N, tổ A, phường T, thành phố B, là em gái ruột ở cùng địa chỉ với anh Trần Công T, được biết như sau: Anh Trần Công T và chị Hoàng Bích H có thực hiện đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nên cả hai đã ly thân thời gian dài. Anh T, chị H có 02 con chung hiện do chị H đang nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh T đi làm ăn xa tại thành phố Hồ Chí Minh, không cho người thân biết địa chỉ cụ thể, nhưng vẫn thường liên lạc về gia đình qua điện thoại. Chị O là người nhận thay anh T, đã thông báo cho anh T biết những văn bản tố tụng của Toà án và anh T thể hiện quan điểm đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại biên bản xác minh của Toà án với tổ trưởng tổ dân phố A, phường T, nơi anh T có địa chỉ hộ khẩu thường trú, được biết như sau: Anh Trần Công T và chị Hoàng Thị H có đăng ký kết hôn tại UBND phường T. Quá trình chung sống anh chị có mâu thuẫn cụ thể như thế nào địa phương không nắm rõ, chỉ biết anh chị đã sống ly thân và anh T đi làm ăn tại thành phố Hồ Chí Minh, thi thoảng mới về địa phương. Việc chị H nộp đơn khởi kiện xin ly hôn anh T thì đề nghị Toà án xem xét theo quy định pháp luật.
Tại Bản tự khai đề ngày 29/02/2024 nộp cho Toà án, hai cháu Trần Công Hoàng Đ, sinh ngày 04/01/2011 và Trần Công Hoàng N, sinh ngày 23/7/2016 đều thể hiện nguyện vọng được tiếp tục ở cùng với mẹ trong trường hợp bố mẹ ly hôn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Bích H xin vắng mặt. Bị đơn Anh Trần Công T vắng mặt.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 28, điều 35, điều 39; điều 147; điều 227; 228; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị xử cho chị Hoàng Bích H được ly hôn anh Trần Công T. Về con chung: đề nghị giao cho chị Hoàng Bích H nuôi hai con chung Trần Công Hoàng Đ, sinh ngày 04/01/2011 và Trần Công Hoàng N, sinh ngày 23/7/2016. Về cấp dưỡng nuôi: không đặt ra xem xét do đương sự không yêu cầu. Tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản không đặt ra xem xét. Về án phí, chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức và nội dung đơn khởi kiện.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung, bị đơn có địa chỉ cư trú tại phường T, thành phố B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo các điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[4]. Về nội dung:
[4.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ lời khai của nguyên đơn cùng tài liệu, chứng cứ là giấy chứng nhận kết hôn do nguyên đơn cung cấp cho thấy chị Hoàng Bích H và anh Trần Công T đã kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B ngày 07/10/2010, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Bích H và anh Trần Công T là hôn nhân là hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Chị Hoàng Thị H xác nhận vợ chồng có những mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã từ cuối năm 2019 và ly thân từ đó đến nay. Tại biên bản xác minh ở địa phương và với em gái ruột của anh Trần Công T cũng thể hiện chị H và anh T có mâu thuẫn và đã sống ly thân thời gian dài. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Toà án đã giải thích, phân tích cho chị H, tuy nhiên chị H vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn anh T. Anh T được Toà án triệu tập làm việc, hoà giải nhưng anh không đến và cũng không thể hiện quan điểm đối với yêu cầu ly hôn của chị H. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H là phù hợp quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[4.2]. Về con chung:
Chị Hoàng Bích H và anh Trần Công T có 02 con chung là Trần Công Hoàng Đ, sinh ngày 04/01/2011 và Trần Công Hoàng N, sinh ngày 23/7/2016. Hiện nay hai con chung đều đang ở cùng chị Hoàng Bích H và theo học tại trường phổ thông trên địa bàn thành phố H. Các con đang phát triển bình thường về thể chất, trí tuệ và đều thể hiện nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Anh Trần Công T hiện không có mặt ở địa phương, đi làm ăn xa, không trực tiếp chăm sóc hai con chung. Do đó, để đảm bảo sự phát triển ổn định cho con chung, Hội đồng xét xử thấy cần thiết tiếp tục giao hai con chung của anh, chị cho chị H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con, do chị H xác định vẫn đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4.3]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[6]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, điều 35, điều 39; điều 147; điều 227; điều 228; điều 238; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Bích H.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Bích H và anh Trần Công T ly hôn.
- Về con chung: Giao 02 con chung Trần Công Hoàng Đ, sinh ngày 04/01/2011 và Trần Công Hoàng N, sinh ngày 23/7/2016 cho chị Hoàng Bích H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị Hoàng Bích H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0001604 ngày 27/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Xác định chị H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa án tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 22/2024/HNGĐ - ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H và anh Th mâu thuẫn, do anh Th không đến Tòa án làm việc, Tòa án xét xử vắng mặt
