TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 22/2024/DS-ST Ngày 13/5/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Bạch Gương.
- Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Hồng Nhung, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 505/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST-DS ngày 26/3/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà ngày 09/4/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số 11/2023/QĐST-DS ngày 25/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.
Địa chỉ: Số B N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L (vắng mặt).
Uỷ quyền tham gia tố tụng cho: Ông Nguyễn Hoàng Trung N1 - Phó Giám đốc khối quản lý và tái cấu trúc tài sản theo Giấy uỷ quyền số 10772/UQ-PVB ngày 10/06/2020 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Đ (vắng mặt).
Uỷ quyền lại cho:
Bà Nguyễn Thị Thu H, giám đốc khách hàng cá nhân (vắng mặt).
Ông Trần Đức N2, Chuyên viên Quản lý khách hàng (có mặt).
Bà Lê Thị L1, Chuyên viên tố tụng (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số B đường L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy uỷ quyền số 5798/UQ-PVB ngày 03/8/2023).
- Bị đơn: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ B, Khu phố D, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị Anh T, sinh năm 1986.
Hộ khẩu thường trú: Tổ B, Khu phố D, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị L1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP Đ (sau đây viết tắt là “Ngân hàng Đ”) cho ông Phạm Văn K vay số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) theo Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 55/2017/HĐTD/PVB-CNBRVT/PGDNTH ngày 23/5/2017. Mục đích vay: Vay vốn tiêu dùng; thời hạn vay 60 tháng (kể từ ngày 23/5/2017). Phương thức trả nợ: Tiền gốc và tiền lãi trả định kỳ mỗi tháng 01 lần vào ngày 15 hàng tháng, kỳ trả gốc, lãi đầu tiên vào ngày 15/6/2017. Mỗi lần trả gốc 2.500.000đ (hai triệu năm trăm ngàn đồng). Tiền lãi thoả thuận từ ngày 23/5/2017 đến 22/8/2017 là 14%/năm; từ ngày 23/8/2017 lãi suất điều chỉnh 03 tháng/lần và được xác định bằng LS13 +6%/ năm (trong đó, LS13 là lãi suất tiền gửi tiết kiệm đại chúng tính lãi cuối kỳ của khách hàng cá nhân, có loại tiền tương ứng với loại tiền vay, kỳ hạn 13 tháng, theo biểu lãi suất huy động của Ngân hàng trong từng thời kỳ).
Thực hiện hợp đồng, ngày 23/5/2017, Ngân hàng Đ đã giải ngân số tiền vay là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) cho ông Phạm Văn K. Quá trình trả nợ đến ngày 11/9/2021 ông K trả được tổng số tiền là 156.857.554₫ (một trăm năm mươi sáu triệu, tám trăm năm mươi bảy ngàn, năm trăm năm mươi bốn đồng), bao gồm: Tiền gốc: 104.155.413đ, T1 lãi đã trả: 52.702.141đ. Từ sau ngày 11/9/2021 cho đến nay ông K không trả thêm khoản tiền nào cho Ngân hàng. Tính đến ngày 13/5/2024, ông Phạm Văn K còn nợ tổng số tiền là: 80.008.756đ (tám mươi triệu, không trăm lẻ tám ngàn, bảy trăm năm mươi sáu đồng), bao gồm: Tiền gốc: 45.844.587đ; Tiền lãi trong hạn: 5.556.172đ; lãi quá hạn: 26.912.856, lãi chậm trả 1.695.137đ và các khoản nợ lãi, phí phát sinh kể từ ngày 14/5/2024 theo hợp đồng cho vay đã ký cho đến khi trả hết nợ. Ngân hàng Đ đã nhiều lần yêu cầu nhưng ông K không trả.
Nay Ngân hàng Đ yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Phạm Văn K và bà Bùi Thị Anh T phải trả tổng số tiền tính đến ngày 13/5/2024 là 80.008.756đ (tám mươi triệu, không trăm lẻ tám ngàn, bảy trăm năm mươi sáu đồng) và và các khoản nợ lãi, phí phát sinh kể từ ngày 14/5/2024 theo hợp đồng cho vay đã ký cho đến khi trả xong nợ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập bị đơn ông Phạm Văn K đến Toà án để làm việc, tham gia phiên hoà giải, phiên toà nhưng ông K đều vắng mặt. Ngày 12/4/2024, ông K trình bày ý đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng như sau:
Ông K xác nhận vào ngày 23/5/2017, ông ký Hợp đồng vay số tiền 150.000.000₫ của Ngân hàng TMCP Đ theo Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 55/2017/HĐTD/PVB-CNBRVT/PGDNTH. Ông K vay tín chấp để tiêu dùng cho cá nhân. Thời điểm vay ông K không nói cho bà T biết việc vay tiền, đến khi TAND thị xã Phú Mỹ giao văn bản tố tụng thì bà T biết. Quá trình sử dụng tiền vay, ông đã trả được số tiền gốc khoảng 105.000.000đ và một phần tiền lãi. Từ cuối năm 2021, do gặp khó khăn trong công việc nên không trả nợ đúng hạn. Đối với hợp đồng mua bán 08 tài sản (gồm: Dàn máy sony STR-K77SW; M; Máy lạnh Toshiba RAS-H13G2KCV; Tivi Sony 55X8500C; Tủ lạnh Toshiba GR-D43GV; Máy giặt Toshiba AW-DC1300WV; Salon gỗ căm xe 7 món; Tủ áo gỗ căm xe) là do làm hồ sơ vay, cán bộ Ngân hàng Đ yêu cầu ông K cung cấp số tài khoản của bên thứ ba để nhận tiền vay. Khi đó, ông đã cung cấp số tài khoản 5510104601002 tại Ngân hàng TMCP Q, chi nhánh V của ông Phạm Văn C, sinh năm 1983 tại thành phố B, tỉnh Đak Lak. Sau khi nhận được tiền thì ông C đã chuyển lại đủ cho ông K. Nay Ngân hàng yêu cầu ông và bà T cùng phải trả số tiền còn nợ thì ông K cho rằng việc vay tiền do một mình ông ký hợp đồng vay, vay tín chấp, sử dụng tiền vay cho mục đích cá nhân. Ông K đã tự trả nợ, không liên quan đến bà T. Nay ông K đồng ý tiếp tục trả nợ số tiền còn lại, bà T không có liên quan đến khoản vay này. Tại phiên toà, ông K vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Bùi Thị Anh T trình bày: Bà T là vợ ông Phạm Văn K. Bà và ông K đăng ký kết hôn ngày 28/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà xác nhận Chữ ký, chữ viết “Phạm Văn K” trên Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 55/2017/HĐTD/PVB-CNBRVT/PGDNTH ngày 23/5/2017 là chữ ký của ông K. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà T không đồng ý trả tiền do thời điểm ông K vay tiền (năm 2017), bà T không ký tên trong hợp đồng tín dụng, bà không hề biết đến khoản vay này, khi khoản vay quá hạn thì Ngân hàng cũng không thông báo cho bà T. Bà T không có ý kiến gì số tiền gốc, lãi còn nợ do nguyên đơn tính toán và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì. Tại phiên toà, bà T vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu ý kiến: Về pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, vi phạm quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông K phải trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng, không chấp chập yêu cầu của nguyên đơn buộc bà T có nghĩa vụ trả nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 55/2017/HĐTD/PVB-CNBRVT/PGDNTH ngày 23/5/2017 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Phạm Văn K với mục đích vay tiêu dùng, một trong hai bên không có mục đích lợi nhuận, nay có phát sinh tranh chấp nên căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Bị đơn là ông Phạm Văn K có nơi cư trú tại thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên toà, ông Phạm Văn K và bà Bùi Thị Anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông K, bà T là đúng pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án.
[2.1] Xét tính hợp pháp của Hợp đồng cho vay: Quá trình tố tụng, Ngân hàng Đ và ông K đều thừa nhận vào ngày 23/5/2017, hai bên có giao kết hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 55/2017/HĐTD/PVB-CNBRVT/PGDNTH để cho vay số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Xét thấy, việc giao kết hợp đồng là có thật, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện giao kết, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội là phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự nên có hiệu lực pháp luật.
[2.2] Về yêu cầu trả nợ gốc và lãi của Ngân hàng: Căn cứ Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương, ông K đã vay của Ngân hàng Đ số tiền là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Thời hạn vay 60 tháng (kể từ ngày 23/5/2017). Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giao đủ số tiền cho vay nhưng ông K không trả nợ đúng hạn nên Ngân hàng đã thông báo chuyển nợ quá hạn theo thoả thuận hợp đồng. Việc ông K không trả nợ đúng hạn là vi phạm thoả thuận tại Điều 3 của Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 55/2017/HĐTD/PVB-CNBRVT/PGDNTH ngày 23/5/2017 và mục số 7, phần II của Khế ước nhận nợ ngày 23/7/2017 đã ký kết giữa hai bên. Theo hợp đồng cho vay đã ký thì thấy: Mức lãi suất trong hạn áp dụng là 14%/năm; kể từ ngày 23/11/2017 là 14,5%/năm; kể từ ngày 23/11/2019 là 13,99%/năm; mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả bằng 10%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự và Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các điều 7, 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do vậy, yêu cầu của Ngân hàng về trả nợ gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký là có căn cứ, cần chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bà Bùi Thị Anh T phải trả nợ cùng bị đơn - ông Phạm Văn K thì thấy: Quá trình tố tụng nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh bà T có liên quan đến khoản vay theo Hợp đồng đã ký. Trong khi, ông K và bà T đều xác nhận bà T không biết về khoản vay theo hợp đồng giữa ông K và Ngân hàng Đ. Theo quy định tại Khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình về nhu cầu thiết yếu thì các tài sản theo hợp đồng mua sắm giữa ông K và ông C (Dàn máy sony STR-K77SW; Macbook MK4M2SA/A ...) không phải là sản phẩm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thông thường không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình theo trình bày của nguyên đơn.
Từ những phân tích nhận định trên và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ buộc ông Phạm Văn K phải trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng Đ; không chấp nhận yêu cầu của của Ngân hàng Đ về việc buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Bùi Thị Anh T phải trả nợ.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị đơn - ông Phạm Văn K phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, 35, 39, 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 299, 323, 463 và 466 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ với ông Phạm Văn K về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” .
Buộc ông Phạm Văn K phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền tính đến ngày 13/5/2024 là 80.008.756đ (tám mươi triệu, không trăm lẻ tám ngàn, bảy trăm năm mươi sáu đồng) theo Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 55/2017/HĐTD/PVB-CNBRVT/PGDNTH ngày 23/5/2017 đã ký giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Phạm Văn K, trong đó tiền gốc: 45.844.587đ, tiền lãi trong hạn 5.556.172đ; lãi quá hạn: 26.912.859đ và lãi chậm trả: 1.695.137đ. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay phải tiếp tục trả cho Ngân hàng khoản tiền nợ gốc chưa trả, phí phát sinh, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay.
- Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ về việc buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Bùi Thị Anh T phải trả số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 55/2017/HĐTD/PVB-CNBRVT/PGDNTH ngày 23/5/2017 đã ký giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Phạm Văn K.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Văn K phải chịu 4.000.000đ (bốn triệu đồng).
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ 1.793.000đ (một triệu bảy trăm chín mươi ba ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 2843 ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/5/2024), nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Bùi Thị Huyền |
Bản án số 22/2024/DS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 22/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP D khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Phạm Văn K
