|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TAN CHÂU TỈNH AN GIANG ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————— |
Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12/4/2024
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH ANGIANG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Dũng;
- Ông Huỳnh Thanh Hùng.
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Tấn Bửu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Huy Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 555/2023/TLST-HNGĐ ngày 25/12/2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HN ngày 13 tháng 3 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST- HN ngày 29/3/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thúy K, sinh năm 1996; địa chỉ cư trú: Tổ B, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang; có mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn V, sinh năm 1996; địa chỉ cư trú: Tổ B, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 14/10/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Võ Thị Thúy K trình bày: Về hôn nhân giữa chị K với anh Nguyễn Tấn V do quen biết nhau trước, được cha, mẹ hai bên đồng ý nên hai người tiến tới hôn nhân vào năm 2016. Hai người có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thị xã T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 50, ngày 08/6/2016. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, thường xuyên xảy ra cãi nhau, cuộc sống không còn hạnh phúc như trước nên chị K và anh V đã không còn sống chung từ tháng 3/2023 đến nay. Nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại, sống không có hạnh phúc. Chị K xin được ly hôn với anh V.
- Về con chung: Chị K với anh V có với nhau 01 đứa con chung tên Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 02/11/2016, hiện cháu K1 đang sống với anh V. Khi ly hôn, chị K đồng ý giao cháu K1 cho anh V nuôi dưỡng, chị K không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Võ Thị Thúy K khai, chị với anh V không có tài sản chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị K khai, chị với anh V không có nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Tấn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh V vắng mặt không lý do.
Biên bản lấy lời khai ngày 13/3/2024 Trương Thị T, sinh năm 1975, cư trú tại tổ B, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang là mẹ ruột anh V khai: Hôn nhân giữa chị K với anh V là hai người tự quen biết nhau trước, sau đó V về nói lại và bàn bạc gia đình hai bên đồng ý, chị K với anh V đi đến kết hôn vào năm 2016 và chị K với anh V có đi đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại UBND xã P, sau khi cưới nhau chị K với anh V làm công nhân và sống hạnh phúc. Năm 2022 thì chị K với anh V có nhiều lần cự cãi nhau, gia đình hai bên có hàn gắn và chị K với anh Vũ đoàn t lại, đầu năm 2023 thì chị K với anh V tiếp tục xảy ra cự cãi nhau nhiều lần và gia đình hai bên hàn gắn nhưng không được cho đến nay. V và Thúy K mỗi người sống một nơi, không ai chịu nhường nhịn với nhau. Gia đình bà T có động viên nhiều lần và hàn gắn lại nhưng không được. Hôn nhân giữa V và Thúy K đã mâu thuẫn nghiêm trọng, không thể hàn gắn lại được, sống không hạnh phúc, bà T nhận thấy Tòa án cho V với Thúy K ly hôn là hợp lý.
Thông báo “số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư”, ngày 20/02/2024 Công an xã P cung cấp: Anh Nguyễn Tấn V, sinh năm 1996; địa chỉ cư trú: Tổ B, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang.
Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thực hiện được do anh V vắng mặt.
Hội đồng xét xử công bố biên bản lấy lời khai ngày 13/3/2024 của bà Trương Thị T, biên bản không lấy được lời khai anh V ngày 21/02/2024, Thông báo “số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư”, ngày 20/02/2024 Công an xã P cung cấp.
Tại phiên tòa, chị K giữ nguyên yêu cầu, anh V vắng mặt,
Chị K xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác; anh V không cung cấp chứng cứ.
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.
Ý kiến về giải quyết vụ án, chị Võ Thị Thúy K với anh Nguyễn Tấn V có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, năm 2022 giữa chị K với anh V có phát sinh mâu thuẫn. Chị K với anh V đã không còn sống chung thời gian dài. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị K.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị K với anh V có 01 con chung tên Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 02/11/2016, hiện cháu K1 đang sống với anh V. Đề nghị giao con chung tên Nguyễn Đăng K1 cho anh V nuôi, chị K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Thẩm quyền: Chị Võ Thị Thúy K khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” với anh Nguyễn Tấn V, sinh năm 1996; địa chỉ cư trú: Tổ B, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.
Thông báo “số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư”, ngày 20/02/2024 Công an xã P cung cấp: Anh Nguyễn Tấn V, sinh năm 1996; địa chỉ cư trú: Tổ B, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang.
Sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Tấn V vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử.
Về nội dung:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thúy K với anh Nguyễn Tấn V có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thị xã T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 50, ngày 08/6/2016. Xét, hôn nhân giữa chị K với anh V là hợp pháp.
Chị K khai khai, Sau khi cưới nhau vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, thường xuyên xảy ra cãi nhau, cuộc sống không còn hạnh phúc như trước nên chị K và anh V đã không còn sống chung từ tháng 3/2023 đến nay. Nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại, sống không có hạnh phúc. Chị K xin được ly hôn với anh V.
Biên bản lấy lời khai ngày 13/3/2024 Trương Thị T, sinh năm 1975, cư trú tại tổ B, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang là mẹ ruột anh V khai: Hôn nhân giữa chị K với anh V là hai người tự quen biết nhau trước, sau đó V về nói lại và bàn bạc gia đình hai bên đồng ý, chị K với anh V đi đến kết hôn vào năm 2016 và chị K với anh V có đi đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại UBND xã P, sau khi cưới nhau chị K với anh V làm công nhân và sống hạnh phúc. Năm 2022 thì chị K với anh V có nhiều lần cự cãi nhau, gia đình hai bên có hàn gắn và chị K với anh Vũ đoàn t lại, đầu năm 2023 thì chị K với anh V tiếp tục xảy ra cự cãi nhau nhiều lần và gia đình hai bên hàn gắn nhưng không được cho đến nay. V và Thúy K mỗi người sống một nơi, không ai chịu nhường nhịn với nhau. Gia đình bà T có động viên nhiều lần và hàn gắn lại nhưng không được. Hôn nhân giữa V và Thúy K đã mâu thuẫn nghiêm trọng, không thể hàn gắn lại được, sống không hạnh phúc, bà T nhận thấy Tòa án cho V với Thúy K ly hôn là hợp lý.
Theo khoản 2 Điều 17, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp,... và lý do chính đáng khác”;
“Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”.
Chị K với anh V có thời gian dài không sống chung, hai người không tự hàn gắn lại được, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Giữa chị K với anh V đã sống xa cách nhau từ năm 2023 đến nay.
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét, chấp nhận yêu cầu của chị K ly hôn đối với anh V.
[3] Về con chung: Chị K với anh V có với nhau 01 đứa con chung tên Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 02/11/2016, hiện cháu K1 đang sống với anh V. Khi ly hôn, chị K đồng ý giao con cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng và chị K không cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của cháu K1 muốn được sống với anh V.
Xét, giao cháu Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 02/11/2016, cho anh V được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh V cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị K trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị K khai giữa chị K với anh V không có tài sản, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đặt ra giải quyết. Nếu sau này anh V cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa anh V với chị K có tài sản, nợ chung mà không tự thỏa thuận được thì anh V vẫn có quyền khởi kiện chị K ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.
[5] Về án phí: Chị Võ Thị Thúy K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị K được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007805 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;
Anh Nguyễn Tấn V không phải chịu tiền án phí hôn nhân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thúy K.
Về hôn nhân: Chị Võ Thị Thúy K được ly hôn với anh Nguyễn Tấn V;
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 02/11/2016 cho anh Nguyễn Tấn V được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Võ Thị Thúy K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Tấn V cùng thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Võ Thị Thúy K trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu sau này anh Nguyễn Tấ V1 cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa anh V1 với chị K có tài sản, nợ chung thì anh V1 vẫn có quyền khởi kiện chị K ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác
Về án phí: Chị Võ Thị Thúy K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị K được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007805 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;
Anh Nguyễn Tấn V không phải chịu tiền án phí hôn nhân.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị Võ Thị Thúy K có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Thời gian kháng cáo của anh Nguyễn Tấn V là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Thế Minh |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Võ Thị Thuý K ly hôn với Anh Nguyễn Tấn V
