Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 22/2024/HS-ST

Ngày 10-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Bùi Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng – Cán bộ nghỉ Hưu

Ông Lê Đức Cơ - Hiệu Phó Trường PTTH Mỹ Đức C

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà: bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội; Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 22/5/2006; ĐKHKTT: thôn L, xã B, huyện M, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; họ tên bố: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1969; họ tên mẹ: Lê Thị Q – sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương.

Đai diện theo pháp luật cho bị cáo T: Ông Nguyễn Văn T1 sinh năm 1969 và bà Lê Thị Q sinh năm 1970; đều trú tại: Thôn L, xã B, huyện M, thành phố Hà Nội. có mặt

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đinh Thị Mai P, Trợ giúp viên pháp lý, thuộc trung tâm T4, TP .. Có mặt

Bị hại: Ông Nguyễn Đức H ( đã chết).

Người đại diện theo pháp luật cho ông H:

  1. Bà Ngô Thị T2; sinh năm 1970, có mặt
  2. Chị Nguyễn Thị N sinh năm 1996, vắng mặt
  3. Chị Nguyễn Thị H1 sinh năm 1994, vắng mặt
  4. Chị Nguyễn Mai H2; sinh năm 2007, vắng mặt

Đại diện theo pháp luật cho chị H2: bà Ngô Thị T2; có mặt.

Đều địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện M, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 7 giờ 15 phút ngày 28/10/2023, trên đường TL 419 đoạn qua thôn P, xã P, huyện M, TP Hà Nội xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ giữa xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 29Y1-649.58 do Nguyễn Văn T, sinh ngày 22/5/2006, trú tại thôn L, xã B, huyện M, TP . điều khiển theo hướng từ xã P đi xã B va chạm với ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1968, trú tại thôn P, xã P, huyện M, TP Hà Nội đi bộ sang đường.

Hậu quả: Ông H và T bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện T5. Sau đó ông H được chuyển ra bệnh viện Q1, đến ngày 29/10/2023 ông H tử vong.

Quá trình điều tra làm rõ: Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 28/10/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 29Y1 - 649.58 đi từ nhà hàng P1 thuộc thôn C, xã P đến xã B để lấy thực phẩm cho nhà hàng. Khi đi đến đường TL419 đoạn thuộc địa phận thôn P, xã P, huyện M, TP Hà Nội, T dùng tay phải lái xe, tay trái sử dụng điện thoại đưa lên tai bên trái để nghe nhạc. Tuyền cúi xuống nhìn vào điện thoại, khi nhìn lên đường thì thấy ông Nguyễn Đức H đang đi bộ từ phía bên trái sang phía bên phải theo chiều đi của T đến vị trí giải phân cách vạch kẻ đường màu trắng, cách vị trí của T khoảng 10m. Tuyền quan sát thấy ông H dừng lại và nhìn về phía xe máy của T. Thấy vậy, T phanh xe lại nhưng do khoảng cách quá gần, không làm chủ được tốc độ nên đã đâm bánh xe phía trước vào đùi trái của ông H. Sau khi xảy ra va chạm xe máy bị đổ xuống đường, đầu xe hướng về xã B và hơi chếch về phía vỉa hè, đuôi xe hướng về xã P, ông H và T ngã ra đường. Sau đó T đứng dậy đưa ông H đi cấp cứu thì ông Nguyễn Khắc T3, sinh năm 1979, trú tại thôn P, xã P, huyện M, TP . là hàng xóm của ông H, đưa ông H đi sơ cứu tại bệnh viện T5 và chuyển ra bệnh viện Q1 để cấp cứu. Đến ngày 29/10/2023, do thương tích quá nặng, gia đình đưa ông H về nhà sau đó trình báo Công an về vụ việc tai nạn. Đến 12 giờ 10 phút cùng này ông H tử vong tại nhà.

Cùng ngày 29/10/2023, Công an huyện M đã tiến hành các thủ tục khám nghiệm theo quy định:

Khám nghiệm hiện trường vụ án:

Nơi xảy ra tai nạn tại đường TL419 đoạn đi qua thôn P, xã P, huyện M, TP Hà Nội, Hiện trường không còn nguyên vẹn do vụ vụ tai nạn xảy ra ngày 28/10/2023 nhưng đến ngày 29/10/2023 gia đình mới trình báo. Cơ quan điều tra tiến hành ghi nhận và dựng lại hiện trường, thể hiện: Mặt đường được trải nhựa áp phan phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, lòng đường nhựa rộng 11,7m, vỉa hè hai bên rộng 3,1m. Độ rộng nối hai góc mở đường từ tỉnh lộ 419 vào nhà văn hoá thôn P rộng 6 mét.

Cột điện 15A Phù Yên 2 cách biển chỉ dẫn hết đoạn đường khu dân cư nằm ở mép đường bên phải theo hướng xã P đi xã M là 16,7m.

Mép đường bên phải theo chiều xã P đi xã M có biển báo chỉ dẫn vạch kẻ đường cho người đi bộ sang đường cách biển chỉ dẫn hết đoạn đường về khu dân cư là 23m.

Theo hướng xã M đi xã P biển chỉ dẫn vạch kẻ đường dành cho người sang đường cách biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên ở bên trái là 34,7m.

Lấy cột điện 15A Phù Yên 2 làm mốc chuẩn, lấy mép đường bên phải theo hướng xã P đi B làm mép chuẩn.

Vị trí số 1: Vị trí ông Nguyễn Đức H sau khi xảy ra tai nạn cách mép chuẩn 5,5m, cách mốc chuẩn 9,40m.

Vị trí số 2: Vị trí xe mô tô màu cam, biển kiểm soát 29Y1-649.58, trục bánh trước cách mép chuẩn 4,25m; trục bánh sau cách mép chuẩn 4,34m, cách vị trí ông H 76cm.

Vị trí số 3: Vị trí mảnh mặt nạ xe mô tô biển kiểm soát 29Y1-649.58 cách mép chuẩn 8m; cách tâm trục bánh trước xe mô tô 5,7m.

Kết quả khám nghiệm tử thi:

Ngày 29/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện M có Quyết định trưng cầu số 178 trưng cầu Phòng K, Công an T6 giám định pháp y tử thi ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1968, trú tại thôn P, xã P, huyện M, TP Hà Nội. Tuy nhiên gia đình ông Nguyễn Đức H cương quyết cản trở việc mổ pháp y tử thi. Qua khám bên ngoài tử thi thể hiện:

Tử thi là nam giới có chiều dài 1,61m, thể trạng trung bình không mặc quần áo, trên cơ thể có nhiều băng gạc. Chân trái được cố định bằng nẹp màu đen. Tử thi lạnh, hoen tử thi xuất hiện ở mặt sau cơ thể.

  • Đầu, mặt, cổ: Vùng đỉnh đầu, trên vành tai phải 8 cm có các vết sây sát, tụ máu trên diện (7x2,5)cm. Vùng mặt không có dấu vết thương tích, răng chắc. Vùng cổ không có dấu vết thương tích.
  • Ngực, bụng: Vùng ngực phải, sát dưới xương đòn phải, có vết thủng da dạng tiêm do cấp cứu. Vùng bụng trái, sát trên gai chậu trước trên bên trái, cách giữa 14 cm có các vết sây sát da kích thước (5x1,5)cm. Vùng mạn sườn trái, dưới hõm nách 20 cm có các vết tụ máu trên diện (14x7)cm. Bụng chướng.
  • Hai tay: mặt sau cẳng tay phải, dưới mỏm khuỷu 3cm có vết sây sát da kích thước (3x2)cm mặt trước cổ tay phải có vết thủng da dạng tiêm do cấp cứu. Nếp khuỷu và mặt trước cổ tay trái có vết thủng da dạng tiêm do cấp cứu. Xương khớp không có tổn thương.
  • Lưng, mông: Vùng lưng sát trên thắt lưng hai bên có các vết sây sát da trên diện (24x7)cm. Vùng mông hai bên bị tụ máu trên diện (17x7)cm.
  • Hai chân: Vùng đầu gối chân phải có các vết sây sát kích thước (4x4) cm. gót chân phải có các vết sây sát, rách da trên diện (2x1,5)cm. Mặt sau ngoài đùi trái, sát dưới gai chậu sau trên, xuống đầu gối trái các rải rác các vết sây sát, tụ máu trên diện (50x17)cm. Gãy kín xương đùi trái.
  • Không mổ tử thi do gia đình cương quyết từ chối và ngăn cản không thể tiến hành pháp y tử thi.

Ngày 19/12/2023, Phòng K, Công an T6 có Kết luận giám định số 8174, kết luận giám định tử thi ông Nguyễn Đức H, kết luận:

  • Trên cơ thể có rải rác các vết sây sát, tụ máu.
  • Vùng đỉnh dầu có vết sây sát tụ máu.
  • Mặt sau ngoài đùi trái xuống đầu gối trái có rải rác các vết sây sát, tụ máu. Gãy kín xương đùi trái.
  • Không mổ tử thi do gia đình từ chối. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M đã lập biên bản về việc này.
  • Trong mẫu máu của nạn nhân gửi giám định tìm thấy các chất ma tuý Morphin, C và chất hoá học của H3 là 6MAM. Không tìm thấy E và các chất độc.
  • Mẫu máu của nạn nhân thuộc nhóm máu O.

Tại kết luận giám định tử thi số 8174/KLGĐTT-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an T6 kết luận nguyên nhân chết: Do chỉ khám ngoài, không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chết của nạn nhân.

Khám nghiệm phương tiện Xe mô tô HONDA WAVE, màu cam, BKS: 29Y1-649.58, số khung RLHJA3922NY51657, số máy: JA39E297955 đăng ký mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 22/5/2006, trú tại thôn L, xã B, huyện M, TP Hà Nội, kết quả:

  • Xe mô tô không có 2 gương chiếu hậu.
  • Mặt trước núm kim loại đầu tay lái bên phải có vết trượt xước kim loại kt 3x1.5cm.
  • Mặt trước bọc cao su tay lái bên phải, vị trí tiếp giáp phần trượt xước núm kim loại đầu tay lái bên phải mài xước cao su theo chiều từ trên xuống dưới kt 2,5x1,5cm.
  • Mặt trước núm phanh bên phải trượt xước kim loại kt 1x1,1cm.
  • Mặt trước phía trên ốp nhựa đèn xi nhan trước bên phải và phần ốp nhựa xi nhan phải trượt xước vỡ nhựa diện 9,7x2cm, một chiều dấu vết tiếp giáp với cạnh ngoài bên phải.
  • Gãy vỡ ốp nhựa xung quanh đồng cô công tơ mét phần bên trái đồng hồ bật lên so với vị trí ban đầu 5cm.
  • Phần mặt nạ phía trước xe gãy rời khỏi vị trí ban đầu cố định, kiểm tra phần mặt nạ có các vết vỡ.
  • Vỡ phần ốp ngựa phía trên của hai phần thụt trục giảm xóc phía trước.
  • Bánh xe trước bị bênh nhẹ sang bên phải.
  • Mặt ngoài sát cạnh sau cánh yếm bên phải có vết trượt xước kt 2,5x1cm.
  • Cạnh dưới đầu ngoài bàn đạp chân phanh có vết trượt xước kim loại kt 1,5x0,4cm.
  • Cạnh dưới đầu ngoài bọc cao su bàn để chân bên phải có vết trượt xước mất cao su kt 2x2cm, để lộ đầu ngoài lõi kim loại phía trong có vết trượt xước kim loại kt 1,5x1,5cm.
  • Mặt ngoài nắm kim loại tay nắm yên bên phải có vết trượt xước kt 3x0,3cm, đầu vết cách tay nắm yên xe bên phải 7,5cm.
  • Cạnh sau phía dưới ốp kim loại ống xả có vết trượt xước kt 4,5x0,5cm.
  • Kiểm tra phanh xe hoạt động.

Ngày 08/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ban hành yêu cầu định giá tài sản số 74, yêu cầu hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định giá trị tài sản tại thời điểm đối với các bộ phận hư hỏng của xe mô tô BKS: 29Y1-649.58.

Tại kết luận định giá tài sản số 74 ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Giá trị hư hỏng tại thời điểm định giá đối với xe mô tô BKS: 29Y1-649.58 là 1.251.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị can đã bồi thường cho gia đình nạn nhân, gia đình nạn nhân không yêu cầu Nguyễn Văn T phải bồi thường khoản gì khác.

Tại cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình

Đại diện bị hại tại phiên tòa vẫn giữ quan điểm không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin được giảm nhẹ hình phạt đến mức tối đa và cho bị cáo được hưởng án treo để có thời gian khắc phục hậu quả sau khi gây tai nạn giao thông.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng truy tố đã nêu. Về quá trình điều tra truy tố đảm bảo theo quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 260; 90, 91, 101 điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, 54 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt:

Nguyễn Văn T từ 24 - 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách gấp đôi.

Về trách nhiệm dân sự: Hai bên đã thỏa thuận và thực hiện xong trách nhiệm bồi thường; Gia đình bị hại không có yêu cầu bồi gì thêm nên không xem xét.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T do bị cáo vị thành niên.

Về vật chứng: - 01 chiếc xe mô tô có chủ sở hữu là bị cáo T điều khiển có yêu cầu được nhận lại xe máy để đến khi đủ điều kiện sử dụng làm phương tiền đi làm, cần trả lại cho bị cáo là đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại, khi phạm tội bị cáo là vị thành niên phạm tội do lỗi vô ý, trước khi phạm tôi là công dân tốt, Đề nghị HĐXX giảm nhẹ mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo tại địa phương.

Bị cáo nói lời sau cùng xin hưởng khoan hồng của nhà nước, mong được cải tạo tại địa phương, chấp hành tốt pháp luật theo bản án để cùng gia đình khắc phục kinh tế do đã bồi thường khắc phục hậu quả.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đợc thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện viện kiểm sát, bị cáo và những ngời tham gia tố tụng khác. HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện M; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên Tòa đã thực hiện đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét tội danh: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận bản thân gia đình có hoàn cảnh khó khăn, phải đi làm xa nhà nên mặc dù chưa đủ tuổi lái xe máy phân khối lớn nhưng cần phương tiện để đi làm nên vẫn sử dụng xe máy Wave biển kiểm soát 29Y1- 469-58 làm phương tiện đi lại khi chưa được cấp giấy phép lái xe. Khi điều khiển xe máy, một phần do quá tự tin, phần vì không hiểu biết hết pháp luật nên đã không tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ. Một tay bị cáo vừa điều kiển xe máy, một tay sử dụng điện thoại nên không chú ý quan sát phần đường theo hướng từ nhà hàng P1 thôn C, xã P đi xã B và đã để xảy ra tai nạn, đâm vào phía đùi trái của ông H đang đi bộ sang đường làm cho ông H bị ngã dẫn đến tử vong sau khi ra viện cấp cứu. Hành vi của Nguyễn Văn T đã vi phạm khoản 9 điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định các hành vi bị nghiêm cấm: “ Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”. Vi phạm Khoản 6 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT –BGTVT ngày 29/8/2019; Vi phạm khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ quy định về chấp hành báo hiệu đường bộ: “Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường”.

Bị cáo còn vi phạm điểm c khoản 3 Điều 30 Luật giao thông đường bộ quy định về Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy: “Người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy không được thực hiện các hành vi sau đây: “Sử dụng ô, điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính".

Từ các lỗi trên xác định: Hành vi của Nguyễn Văn T điều khiển phương tiện xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định, vi phạm luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm ông Nguyễn Đức H tử vong đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 260 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố bị cáo với tội danh và khung khoản, điều luật trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể trật tự an toàn giao thông, khi có hành vi xâm phạm an toàn giao thông xảy ra đã cớp đi sinh mạng của những công dân vô tội, gây tổn hại cả về vật chất và tinh thần cho xã hội. Từ đó gây ảnh hởng xấu và làm mất đi tính ổn định trật tự an toàn giao thông tại địa phơng nơi xảy ra vụ án.

Xét hành vi của bị cáo: Xuất phát từ việc không tìm hiểu những quy định của luật giao thông đờng bộ, nên khi chưa tuổi được cấp giấy phép lái xe bị cáo vẫn điều khiển xe mô tô tham gia giao thông, khi tham gia giao thông đã chủ quan, coi thờng luật giao thông đờng bộ, không thực hiện và không tuân thủ luật, liều lĩnh điều khiển xe máy có phân khối lớn được coi là nguồn nguy hiểm cao độ, khi gặp chướng ngại vật không xử lý kịp thời dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng làm chết một người. Hành vi của bị cáo là thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải có hình phạt nhất định tương xứng với tính chất hành vi của bị cáo để cải tạo răn đe đối với bị cáo và mang tính phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên khi lên mức hình phạt cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo đó là: Sự việc cũng có lỗi một phần của người bị hại là ông Nguyễn Đức H khi tham gia giao thông, tại đoạn đường có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ sang đường nhưng ông H lại không đi đúng nơi quy định có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ sang đường, ông H đã không tuân thủ quy định tại điều 32 của Luật giao thông đường bộ... “2. Người đi bộ chỉ được qua đường ở những nơi có đèn tín hiệu, có vạch kẻ đường hoặc có cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ và phải tuân thủ tín hiệu chỉ dẫn”.... Khi khám nghiệm tử thi phát hiện thấy bị hại có sử dụng chất ma túy tại thời điểm bị tai nạn. Nên hậu quả xảy ra có lỗi một phần của bị hại. Trước và tại phiên tòa, đại diện của người bị hại có đơn và vẫn giữ yêu cầu xin cho bị cáo được hưởng án treo, vì đã thực sự ăn năn hối cải và tự nguyện bồi thường đẩy đủ thiệt hại cho gia đình bị hại, bị cáo và gia đình thường xuyên thăm hỏi, quan tâm gia đình của bị hại. Bị cáo phạm tội lần đầu do lỗi vô ý và đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo nhận tội, bị cáo có nhân thân tốt, là người chưa thành niên, hoàn cảnh kinh tế có thật sự khó khăn do bị thiệt hại nặng sau khi gây ra tai nạn giao thông. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 điều 51 BLHS, Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, HĐXX chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo cơ hội được cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe giáo dục đối với bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội. Thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước đối với người biết ăn năn hối cải.

Bị cáo trong vụ án khi phạm tội đang là vị thành niên nên cần áp dụng chế định xem xét trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi được quy định trong bộ luật hình sự để lên mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo vị thành niên.

[2.2] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp cho bị hại thừa nhận đã nhận được số tiền bồi thường của bị cáo tổng cộng là 150.000.000 đồng. Nay đại diện bị hại không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Cần xem xét xử lý như đại diện VKS đề nghị là có căn cứ.

[2.5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 90, 91, 101, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, 65 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo được hưởng án treo cho ủy ban nhân dân xã B, huyện M, TP Hà Nội và gia đình theo dõi, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc theo dõi giám sát được áp dụng theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Do đại diện hợp pháp của bị hại, không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Vật chứng: Trả lại cho bị cáo T 01 xe mô tô hon đa hiệu Wave màu cam biển kiểm soát 29Y1-649-58 có mô tả định dạng như biên bản giao nhận vật chứng của chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Mỹ Đức ngày 06/5/2024.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, đại diện bị hại có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã Bột Xuyên;
  • - Bị cáo; ĐD hợp pháp của bị cáo; đại diện bị hại;
  • - Lưu VT; hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Vi phạm giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger