Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày 09-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Quốc Văn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chính

Ông Trần Phi Hùng

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/HSST ngày 20 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Hồ Thị Bích G (tên gọi khác: bà Hai S), sinh ngày 17/7/1958 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn L (đã chết) và bà Lâm Thị M (đã chết); có chồng là Phan Hoàng S1 (đã chết) và 04 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bắt tạm giam ngày 28/12/2023 đến nay.

Bị hại:

  1. Bà Lâm Thị Cẩm N, sinh năm 1979
    Địa chỉ: Ấp 3, xã Tân Lộc Bắc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau
  2. Bà Trần Thị M1, sinh năm 1970
    Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  3. Bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1981
    Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  4. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1982
    Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  1. Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1960
    Địa chỉ: Ấp 8, Tân Thạnh, Giá Rai, Bạc Liêu
  2. Bà Phan Thị B, sinh năm 1968
    Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  3. Ông Trương Văn D, sinh năm 1992
    Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  4. Bà Trần Thúy K, sinh năm 1979
    Địa chỉ: Ấp Giao Khẩu, xã Tân Phú, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau
  5. Bà Phan Thị H1, sinh năm 1975
    Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  6. Bà Nguyễn Thị Sim E, sinh năm 1986
    Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  7. Bà Nguyễn Kim C, sinh năm 1970
    Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  8. Bà Đặng Bé C1, sinh năm 1966
    Địa chỉ: Ấp 8, Tân Thạnh, Giá Rai, Bạc Liêu
  9. Bà Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1977
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  10. Ông Lê Thanh N1, sinh năm 1972
    Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  11. Ông Trần Văn A, sinh năm 1983
    Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  12. Bà Phan Thị N2, sinh năm 1971
    Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  13. Bà Lâm Hồng X, sinh năm 1980
    Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  14. Bà Lê Anh T1, sinh năm 1991
    Địa chỉ: Ấp Đ, T, P, Cà Mau
  15. Ông Trịnh Thanh T2, sinh năm 1985
    Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  1. Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1989
  2. Bà Lữ Thị T3, sinh năm 1980
  3. Bà Nguyễn Thị N3, sinh năm 1964
    Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  4. Bà Trần Thị L1, sinh năm 1964
    Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  5. Bà Đặng Kim S2, sinh năm 1949
    Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  6. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1963
  7. Bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1959
  8. Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1988
  9. Bà Tô Út R, sinh năm 1982
  10. Bà Hồ Hằng N4, sinh năm 1990
    Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  11. Bà Trương Thị T4, sinh năm 1962
  12. Bà Ngô Thanh T5, sinh năm 1970
  13. Ông Trần Văn T6, sinh năm 1973
  14. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1988
  15. Bà Hồ Thị P1, sinh năm 1958
    Cùng địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị C3, sinh năm 1955
    Địa chỉ: Ấp Giao Khẩu, xã Tân Phú, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau
  2. Bà Phạm Kiều T7, sinh năm 1989
  3. Bà Trịnh Anh T8, sinh năm 1976
    Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  4. Bà Nguyễn Thị T9, sinh năm 1977
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  5. Bà Trần Thị C4, sinh năm 1969
  6. Ông Phan Hoàng Đ1, sinh năm 1985
    Cùng địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
  1. Ông Lê Chí C5, sinh năm 1995
  2. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1972
    Cùng địa chỉ: Ấp 3, xã Tân Lộc Bắc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau
  3. Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1971
    Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau

Tại phiên tòa, bà B, ông D, bà H1, bà Ý, bà X, bà T8, ông T2, bà T3, bà L1, bà S2, bà C3, bà R, bà N5, bà T4, bà T5, ông T7, bà P1, bà T7, bà Anh T8 vắng mặt không có lý do. Những người tham gia tố tụng còn lại có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Hồ Thị Bích G làm chủ hụi từ năm 2012 và mở nhiều dây hụi, loại hụi 2.000.000 đồng/tháng, 1.000.000 đồng/tháng và 500.000 đồng/tháng cho hụi viên tham gia để hưởng tiền cò (hoa hồng trên mỗi kỳ khui hụi là 60%). Quá trình làm chủ hụi G có lập danh sách hụi giao cho hụi viên và quy định thể lệ chơi hụi, thời gian bỏ thăm (khui hụi), gom tiền và giao tiền hụi rõ ràng. Theo đó, hụi viên bỏ thăm cao hơn sẽ được hốt hụi. bị cáo G không có mở sổ theo dõi việc bỏ thăm và hốt hụi của từng dây hụi, nhưng bị cáo có theo dõi tiền khui hụi và hụi viên hốt hụi bằng cách trực tiếp ghi vào danh sách hụi của từng dây.

Khoảng tháng 11/2020, bị cáo G bị thâm hụt tiền do một số hụi viên hốt hụi nhưng không đóng lại hụi chết và tiêu xài cho gia đình, nên bị cáo G nảy sinh ý định tự ý hốt hụi của hụi viên và bán hụi khống để chiếm đoạt tiền của hụi viên. Bị cáo G lợi dụng những hụi viên không đi bỏ thăm rồi tự ý lấy tên hụi viên bỏ thăm để hốt hụi, bán hụi khống lấy tiền phục vụ cho mục đích cá nhân (tiêu xài và lấp hụi). Đến ngày 29/11/2022 (nhằm ngày 06/11/2022 âm lịch), bị cáo G tuyên bố đình hụi thì còn lại 12 dây hụi liên quan đến 111 hụi viên. Trong đó, có 07 dây hụi liên quan đến 34 hụi viên bị G chiếm đoạt tiền hụi. Cụ thể như sau:

Dây thứ nhất (D1):

Mở ngày 01/10/2020 (nhằm ngày 15/8/2020 âm lịch), loại hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui vào ngày 15 âm lịch hàng tháng, gồm 28 chân. bị cáo G tham gia chơi 02 chân và mượn hụi của hụi viên 02 chân. Bị cáo G đã hốt 04 chân. Dây hụi này đã khui được 25 kỳ (25 chân), hụi viên thực hốt 24 chân, bị cáo G tự ý hốt của hụi viên 01 chân. Tại kỳ 4 (tháng 11/2020 âm lịch) bị cáo G tự ý lấy tên

hụi viên “H3” (Lâm Thị Cẩm N), bỏ thăm 700.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 30.900.000 đồng.

Có 03 hụi viên đóng hụi và 01 hụi viên mua hụi chưa được hốt gồm:

  • + Nguyễn Thị P:01 chân đóng 35.350.000 đồng.
  • + Huỳnh Văn H:01 chân đóng 35.350.000 đồng.
  • + Phan Thị B:01 chân đóng 35.350.000 đồng.
  • + Lâm Thị Cẩm N 01 chân mua 23.650.000 đồng (đã trừ tiền lãi)

Dây thứ hai (D3):

Mở ngày 01/10/2020 (nhằm ngày 15/8/2020 âm lịch), loại hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui vào ngày 15 âm lịch hàng tháng, gồm 36 chân, bị cáo G tham gia chơi 2,5 chân (trong đó có nửa chân chơi cùng hụi viên C3) và mượn của hụi viên 04 chân. Bị cáo G đã hốt 6,5 chân. Dây hụi này đã khui được 25 kỳ (25 chân), hụi viên thực hốt 22 chân, bị cáo G tự ý lấy tên hụi viên hốt 03 chân, chiếm đoạt số tiền 61.000.000 đồng, cụ thể như sau:

  • - Kỳ 9 (tháng 4/2021 âm lịch): Bị cáo G tự ý lấy tên hụi viên “6 P1” (Hồ Thị P1), bỏ thăm 420.000 đồng để hốt, chiếm đoạt 18.660.000 đồng.
  • - Kỳ 16 (tháng 1/2022 âm lịch): Bị cáo G tự lấy tên hụi viên “7 D1” (Nguyễn Thị Sim E), bỏ thăm 350.000 đồng để hốt, chiếm đoạt 20.600.000 đồng.
  • - Kỳ 20 (tháng 5/2022 âm lịch): Bị cáo G tự lấy tên hụi viên “Út Hiền” (Phan Thị H1), bỏ thăm 330.000 đồng để hốt, chiếm đoạt 21.740.000 đồng.

Có 14 chân của 12 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:

  • + Nguyễn Thị P: 03 chân đóng 48.540.000 đồng.
  • + Lữ Thị T3: 01 chân đóng 16.180.000 đồng.
  • + Nguyễn Thị N3: 01 chân đóng 16.180.000 đồng.
  • + Trần Thúy K: 01 chân đóng 16.180.000 đồng.
  • + Phan Thị H1:01 chân đóng 16.180.000 đồng.
  • + Nguyễn Thị Sim E:01 chân đóng 16.180.000 đồng.
  • + Nguyễn Kim C: 01 chân đóng 16.180.000 đồng.
  • + Trần Thị L1:01 chân đóng 16.180.000 đồng.
  • + Nguyễn Kim T:01 chân đóng 16.180.000 đồng.
  • + Hồ Thị P1:01 chân đóng 16.180.000 đồng.
  • + Nguyễn Thị B1: 01 chân đóng 16.180.000 đồng.
  • + Đặng Kim S2:01 chân đóng 16.180.000 đồng.

Dây thứ ba (D6):

Mở ngày 21/02/2021 (nhằm ngày 10/01/2021 âm lịch), loại hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui vào ngày 10 âm lịch hàng tháng, gồm 28 chân, bị cáo G

tham gia chơi 02 chân, mượn của hụi viên 04 chân. Bị cáo G đã hốt hết 06 chân. Dây hụi này đã khui được 20 kỳ (20 chân), hụi viên thực hốt 20 chân. Dây hụi này bị cáo không tự ý lấy tên hụi viên bỏ thăm hốt hụi, nhưng có hành vi bán hụi khống. Cụ thể, tại kỳ 3 (tháng 3/2021 âm lịch), bị cáo bán khống cho hụi viên “H3” (Lâm Thị Cẩm N) 01 chân hụi, chiếm đoạt số tiền 16.900.000 đồng. Dây hụi này, bị cáo G chỉ chiếm đoạt tiền của hụi viên N, đến khi đình hụi bị cáo còn nợ chị N 11.220.000 đồng ở dây này.

DÕY THứ BỐN (D7):

Mở ngày 21/02/2021 (nhằm ngày 10/01/2021 âm lịch, dây 2), loại hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui vào ngày 10 âm lịch hàng tháng, gồm 28 chân, bị cáo G tham gia chơi 02 chân, mượn của hụi viên 04 chân. Bị cáo G đã hốt 06 chân. Dây hụi này đã khui được 20 kỳ (20 chân), hụi viên thực hốt 18 chân, bị cáo G tự ý lấy tên hụi viên hốt 02 chân, bán khống 01 chân chiếm đoạt số tiền 48.470.000 đồng. Cụ thể như sau:

  • - Kỳ 7 (tháng 9/2021 âm lịch): G tự ý lấy chân hụi đã bán cho hụi viên “H3” (Lâm Thị Cẩm N), bỏ thăm 350.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 14.650.000 đồng.
  • - Kỳ 8 (tháng 10/2021 âm lịch): G tự ý lấy tên hụi viên “Diệu” (Trần Văn A), bỏ thăm 380.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 14.020.000 đồng.
  • - Kỳ 12 (tháng 02/2022 âm lịch): G bán khống 01 chân hụi cho Trương Văn D, chiếm đoạt số tiền 19.800.000 đồng.

Có 11 chân hụi của 08 hụi viên đóng hụi và mua hụi nhưng chưa được hốt gồm:

  • + Đặng Bé C1:01 chân đóng 13.300.000 đồng.
  • + Nguyễn Thị Như Ý:01 chân đóng 13.300.000 đồng.
  • + Lê Thanh N1:02 chân đóng 26.600.000 đồng.
  • + Nguyễn Thị P: 01 chân đóng 13.300.000 đồng.
  • + Lâm Thị Cẩm N:03 chân (trong đó có 01 chân mua đã trừ tiền lãi) đóng 39.900.000 đồng.
  • + Nguyễn Kim C:01 chân đóng 13.300.000 đồng.
  • + Trần Văn A: 01 chân đóng 13.300.000 đồng.
  • + Trương Văn Diệp:01 chân mua 17.340.000 đồng (đã trừ tiền lãi).

Dây thứ năm (D8):

Mở ngày 06/6/2021 (nhằm ngày 26/4/2021 âm lịch, dây 1), loại hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui vào ngày 26 âm lịch hàng tháng, gồm 28 chân, bị cáo G tham gia chơi 02 chân, mượn của hụi viên 01 chân. Bị cáo G đã hốt 02 chân. Dây hụi này đã khui được 16 kỳ (16 chân), hụi viên thực hốt 15 chân, bị cáo G tự ý lấy tên hụi viên hốt 01 chân. Tại kỳ 4 (tháng 9/2021 âm lịch) bị cáo G tự ý lấy tên

hụi viên “H3” (Lâm Thị Cẩm N), bỏ thăm 410.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 15.160.000 đồng. Mặc dù, ở dây hụi này bị cáo vẫn còn 01 chân hụi chưa hốt, nhưng do bị cáo đã hốt nhiều chân hụi của bị cáo ở những dây khác, bị cáo G sợ nếu hốt hết 02 chân hụi bị cáo chơi ở dây này sẽ bị hụi viên phát hiện bị cáo mất khả năng duy trì dây hụi, nên bị cáo tự ý lấy tên của hụi viên bỏ thăm hốt hụi để chân hụi của bị cáo còn sống nhằm tạo sự tin tưởng cho hụi viên và để che giấu hành vi tự ý chiếm đoạt tiền của hụi viên.

Ngoài chân hụi của bị cáo G chưa hốt, còn có 12 chân hụi của 08 hụi viên đóng hụi và mua hụi nhưng chưa được hốt gồm:

  • + Nguyễn Thị B1:01 chân đóng 10.220.000 đồng.
  • + Trần Thị M1:01 chân đóng 10.220.000 đồng.
  • + Trần Thúy K:02 chân đóng 20.440.000 đồng.
  • + Nguyễn Thị P:01 chân đóng 10.220.000 đồng.
  • + Nguyễn Thị H2:01 chân đóng 10.220.000 đồng.
  • + Phan Thị N2:01 chân đóng 10.220.000 đồng.
  • + Trần Văn A: 01 chân đóng 10.220.000 đồng.
  • + Lâm Thị Cẩm N:04 chân (trong đó có 01 chân mua đã trừ tiền lãi) đóng 43.140.000 đồng.

DÕY THứ 6 (D9):

Mở ngày 06/6/2021 (nhằm ngày 26/4/2021 âm lịch, dây 2), loại hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui vào ngày 26 âm lịch hàng tháng, gồm 28 chân, bị cáo G tham gia chơi 02 chân, mượn của hụi viên 02 chân. G đã hốt 04 chân. Dây hụi này đã khui được 16 kỳ (16 chân), hụi viên thực hốt 14 chân, bị cáo G tự ý lấy tên hụi viên hốt 02 chân, chiếm đoạt số tiền 33.220.000 đồng. Cụ thể như sau:

  • · Kỳ 3 (tháng 8/2021 âm lịch) G tự ý lấy tên hụi viên “H3” (Lâm Thị Cẩm N), bỏ thăm 400.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 15.000.000 đồng.
  • - Kỳ 13 (tháng 6/2022 âm lịch) G tự ý lấy tên hụi viên “Út Hiền” (Phan Thị H1), bỏ thăm 340.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 18.220.000 đồng

Có 14 chân hụi của 07 hụi viên đóng hụi và mua hụi nhưng chưa được hốt gồm:

  • + Trần Thúy K:03 chân đóng 31.920.000 đồng.
  • + Phan Thị N2:02 chân đóng 21.280.000 đồng.
  • + Nguyễn Thị C2:01 chân đóng 10.640.000 đồng.
  • + Nguyễn Thị O:01 chân đóng 10.640.000 đồng.
  • + Nguyễn Thị H2:01 chân đóng 10.640.000 đồng.
  • + Phan Thị H1:01 chân đóng 10.640.000 đồng.
  • + Lâm Thị Cẩm N:05 chân (trong đó có 01 chân mua đã trừ tiền lãi) đóng 56.970.000 đồng.

DÕY THứ 7 (D10):

Mở ngày 04/3/2022 (nhằm ngày 02/02/2022 âm lịch), loại hụi 500.000 đồng/tháng, khui vào ngày 02 âm lịch hàng tháng, gồm 30 chân, G tham gia chơi 03 chân (trong đó có 01 chân do hụi viên trả), mượn của hụi viên 01 chân. G đã bán 01 chân, hốt 03 chân. Dây hụi này đã khui được 09 kỳ (9 chân), hụi viên thực hốt 08 chân, G tự ý lấy tên hụi viên hốt 01 chân. Cụ thể, tại kỳ 7 (tháng 8/2022 âm lịch), G lấy tên hụi viên “5 H3” (Lâm Thị Cẩm N), bỏ thăm 130.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 8.880.000 đồng.

Có 22 chân hụi của 13 hụi viên đóng hụi và mua hụi nhưng chưa được hốt gồm:

  • + Phan Thị B:03 chân đóng 5.860.000 đồng (G đã trả lại tiền thực đóng 01 chân).
  • + Tô Út R:01 chân đóng 2.930.000 đồng.
  • + Lâm Hồng X:01 chân đóng 2.930.000 đồng.
  • + Lê Anh T1:02 chân đóng 5.860.000 đồng.
  • + Trương Thị T4:01 chân đóng 2.930.000 đồng.
  • + Hồ Hằng N4:01 chân đóng 2.930.000 đồng.
  • + Ngô Thanh T5:01 chân đóng 2.930.000 đồng.
  • + Đặng Kim S2:01 chân đóng 2.930.000 đồng.
  • + Trần Văn T6:02 chân đóng 5.860.000 đồng.
  • + Trịnh Thanh T2:01 chân đóng 2.930.000 đồng.
  • + Nguyễn Thị B1:01 chân đóng 2.930.000 đồng.
  • + Nguyễn Thị Đ:01 chân đóng 2.930.000 đồng.
  • + Lâm Thị Cẩm N:06 chân (trong đó có 01 chân mua đã trừ tiền lãi) đóng 23.690.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo G chiếm đoạt của hụi viên bằng hành vi tự ý lấy tên hụi viên để hốt và bán hụi khống ở 07 dây hụi là 214.530.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, có 19 hụi viên là bị hại và 01 hụi viên liên quan đến 07 dây hụi bị G chiếm đoạt yêu cầu G trả lại tiền hụi đã đóng chưa được hốt và tiền mua hụi. Cơ quan điều tra đã cho các hụi viên và bị cáo G đối chiếu nợ với nhau, qua đó bị cáo G còn nợ các hụi viên và thống nhất thanh toán cho các hụi viên số tiền như sau:

  • - Lâm Thị Cẩm Nhung 217.580.000 đồng. Trong đó, có 28.920.000 đồng ở những dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Trương Văn Diệp 120.240.000 đồng. Trong đó, có 31.060.000 đồng trong những dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Nguyễn Thị Sim E 24.680.000 đồng. Trong đó, có 14.110.000 đồng trong những dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Phan Thị H1 20.900.000 đồng.
  • - Trần Văn A 23.520.000 đồng.
  • - Huỳnh Văn H 50.550.000 đồng.
  • - Phan Thị B 33.880.000 đồng. Trong đó, có 4.470.000 đồng trong dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Nguyễn Thị P 162.490.000 đồng. Trong đó, có 76.580.000 đồng trong những dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Nguyễn Kim C 79.630.000 đồng. Trong đó, có 32.250.000 đồng trong những dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Đặng Bé C1 26.690.000 đồng. Trong đó, có 13.390.000 đồng trong dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Lê Thanh N1 24.600.000 đồng.
  • - Trần Thúy K 113.300.000 đồng. Trong đó, có 29.560.000 đồng trong những dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Nguyễn Kim T 21.000.000 đồng. Trong đó, có 7.230.000 đồng trong dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Trần Thị M1 7.720.000 đồng.
  • - Phan Thị N2 18.000.000 đồng.
  • - Lê Anh T1 1.860.000 đồng.
  • - Lâm Hồng Xuân 2.930.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị Như Ý 26.690.000 đồng. Trong đó, có 13.390.000 đồng trong dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Trịnh Thanh T2 2.930.000 đồng.
  • - Phạm Kiều T7 52.540.000 đồng. Trong đó, có 46.060.000 đồng trong những dây không bị G chiếm đoạt.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo Hồ Thị Bích G về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã được trình bày nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Về trách nhiệm dân sự: Ngoài việc thanh toán cho 19 bị hại và bà Phạm Kiều T7 nói trên, thị bị cáo G còn tự nguyện thanh toán cho các hụi viên gồm:

  • - Nguyễn Thị B1 28.000.000 đồng
  • - Nguyễn Thị N3 50.000.000 đồng
  • - Nguyễn Thị O 2.500.000 đồng
  • - Trần Thị C3 6.100.000 đồng.
  • - Lê Chí C5 23.920.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị V 16.600.000 đồng.
  • - Trịnh Anh T8 14.600.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị L2 49.300.000 đồng.
  • - Trần Thị C4 27.400.000 đồng
  • - Nguyễn Thị T9 43.790.000 đồng.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà: Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Bích G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, phạt bị cáo Hồ Thị Bích G từ 05 năm đến 06 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.

Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo trả lại tiền hụi cho 22 bị hại và 08 hụi viên liên quan theo thực tế đã được thoả thuận và ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo thanh toán nợ cho các hụi viên như đã được trình bày nói trên.

Vật chứng: Đề nghị tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các lời khai của người bị hại, người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Hồ Thị Bích G, làm chủ nhiều dây hụi tháng để hưởng tiền hoa hồng từ năm 2012. Đến khoảng tháng 11/2020 bị cáo G bị thâm hụt tiền do tiêu xài cá nhân và do hụi viên không đóng hụi chết nên G nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của hụi viên. Lợi dụng việc hụi viên không đi khui hụi, G đã 10 lần tự ý lấy tên hụi viên để bỏ thăm hụi và 02 lần bán hụi khống trong 07 dây hụi chiếm đoạt số tiền 214.530.000 đồng. Với hành vi và giá trị tài sản nêu trên thì Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo Hồ Thị Bích G về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Bằng thủ đoạn lợi dụng sự tin tưởng, chủ quan của các hụi viên, bị cáo G đã thực hiện hành vi gian dối như: Tự ý lấy tên hụi viên để bỏ thăm hốt hụi và 02 lần bán hụi khống, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Để có tiền góp hụi các bị hại phải khổ cực dầm mưa, dải nắng mới kiếm được nhưng bị cáo G đã chiếm đoạt hết của họ. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội của địa phương, tạo nên tâm lý hoang mang, lo sợ, gây nên sự bức xúc, bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Thực tiễn hiện nay tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực góp hụi ngày càng gia tăng. Vì vậy, việc xử lý nghiêm đối với bị cáo là cần thiết, nhằm đấu tranh phòng ngừa chung.

[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Từ tháng 11/2020 đến tháng 11/2022, bị cáo G có hành vi 10 lần tự ý lấy tên hụi viên để bỏ thăm hốt hụi và 02 lần bán hụi khống để chiếm đoạt tiền của hụi viên nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã nộp tiền khắc phục hậu quả nhiều hơn số tiền bị cáo chiếm đoạt; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhiều bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, có trình độ học vấn thấp nên việc nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo là người cao tuổi nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện tính khoan hồng của Đảng và của Nhà nước ta.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình tại phiên tòa là có cơ sở, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nữa mới đủ sức cải tạo bị cáo trở thành người tốt cũng như phòng ngừa chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu bị cáo trả lại số tiền bị cáo G chiếm đoạt và còn nợ hụi và bị cáo thống nhất hoàn trả theo yêu cầu của các bị hại và những người liên quan nên được Hội đồng

xét xử chấp nhận. Vì vậy, buộc bị cáo Hồ Thị Bích G trả lại cho các hụi viên số tiền hụi còn nợ như sau:

  • - Lâm Thị Cẩm Nhung 217.580.000 đồng. Trong đó, có 28.920.000 đồng ở những dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Trương Văn Diệp 120.240.000 đồng. Trong đó, có 31.060.000 đồng trong những dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Nguyễn Thị Sim E 24.680.000 đồng. Trong đó, có 14.110.000 đồng trong những dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Phan Thị H1 20.900.000 đồng.
  • - Trần Văn A 23.520.000 đồng.
  • - Huỳnh Văn H 50.550.000 đồng.
  • - Phan Thị B 33.880.000 đồng. Trong đó, có 4.470.000 đồng trong dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Nguyễn Thị P 162.490.000 đồng. Trong đó, có 76.580.000 đồng trong những dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Nguyễn Kim C 79.630.000 đồng. Trong đó, có 32.250.000 đồng trong những dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Đặng Bé C1 26.690.000 đồng. Trong đó, có 13.390.000 đồng trong dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Lê Thanh N1 24.600.000 đồng.
  • - Trần Thúy K 113.300.000 đồng. Trong đó, có 29.560.000 đồng trong những dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Nguyễn Kim T 21.000.000 đồng. Trong đó, có 7.230.000 đồng trong dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Trần Thị M1 7.720.000 đồng.
  • - Phan Thị N2 18.000.000 đồng.
  • - Lê Anh T1 1.860.000 đồng.
  • - Lâm Hồng Xuân 2.930.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị Như Ý 26.690.000 đồng. Trong đó, có 13.390.000 đồng trong dây hụi không bị G chiếm đoạt.
  • - Trịnh Thanh T2 2.930.000 đồng.
  • - Phạm Kiều T7 52.540.000 đồng. Trong đó, có 46.060.000 đồng trong những dây không bị G chiếm đoạt.
  • - Nguyễn Thị B1 28.000.000 đồng
  • - Nguyễn Thị N3 50.000.000 đồng
  • - Nguyễn Thị O 2.500.000 đồng
  • - Trần Thị C3 6.100.000 đồng.
  • - Lê Chí C5 23.920.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị V 16.600.000 đồng.
  • - Trịnh Anh T8 14.600.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị L2 49.300.000 đồng.
  • - Trần Thị C4 27.400.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị T9 43.790.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo G có trách nhiệm trả cho các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là 1.296.440.000 (một tỷ hai trăm chín mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) được đối trừ số tiền bị cáo nộp khắc phục tại cơ quan điều tra Công an huyện T là 600.000.000 đồng, (sáu trăm triệu đồng) hiện Công an huyên T đang quản lý (được đối trừ theo tỷ lệ bằng nhau). Bị cáo G còn tiếp tục trả cho các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền 696.440.000 đồng (sáu trăm chín mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).

Các bị hại gồm: Lữ Thị T3, Trần Thị L1, Đặng Kim S2, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị C2, Tô Út R, Trương Thị T4, Hồ Hằng N4, Ngô Thanh T5, Trần Văn T6, Nguyễn Thị Đ, Hồ Thị P1 tự thỏa thuận với bị cáo G, không yêu cầu gì liên quan đến hình sự, dân sự nên không xem xét.

Đối với Tô Thị P2, Lâm Thị H4, Trần Ngọc Đ2, Phạm Thị R1, Hồ Thị X1, Hồ Thị P1, Lê Thị Tú A1, Bùi Hoàng H5, Phan Mỹ L3, Nguyễn Thị H6, Hồ Thị Kim C6, Phạm Thị C7, Lê Thanh D2, Đỗ Văn G1, Phạm Văn K1, Tạ Thị N6, Cao Kha L4, Phan Thị Bích T10, Trương Văn S3, Trương Thị P3, Dương Thị N7, Trương Thị N8, Bùi Văn S4, Lê Thị N9, Phan Hồng D3, Ngô Thị Ngọc Q, Lữ Hồng T11, Lê Thị H7 tham gia chơi trong 07 dây hụi bị cáo G1 chiếm đoạt tiền của hụi viên. Những hụi viên này cho bị cáo G1 mượn hụi hoặc đã hốt hụi. Bị cáo G1 và những hụi viên này đã tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu gì về phần dân sự. Nếu không thỏa thuận được, G1 và những hụi viên này có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác để yêu cầu về phần dân sự.

Đối với các hụi viên: Trần Văn D4, Lê Hồng N10, Phan Thị T12, Phan Thị T13, Nguyễn Thị N11, Lê Thị L5, Trịnh Văn T14, Nguyễn Ngọc Đ3, Lữ Hồng Y tham gia chơi hụi trong 07 dây hụi bị cáo G1 có chiếm đoạt tiền của hụi viên. Bị cáo G1 xác định những hụi viên này đã hốt hụi và còn nợ hụi chết của bị cáo G1, nhưng quá trình điều tra không làm việc được do những người này không có mặt ở địa phương và không biết được hiện ở đâu, làm gì nên chưa làm rõ được về phần dân sự liên

quan đến vụ án. Nếu không thỏa thuận được, G1 và những hụi viên này có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác để yêu cầu về phần dân sự.

Trường hợp bị cáo G1 chậm trả thì phải chịu lãi theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Vật chứng: 12 danh sách hụi, thể hiện việc mở hụi và số hụi viên tham gia cũng như theo dõi việc hốt hụi, đây là vật chứng liên quan đến tội phạm nên tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí được Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo và các đương sự tại vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 của Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Bích G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Phạt bị cáo Hồ Thị Bích G 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.

2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 586, 589 của Bộ luật dân sự buộc bị cáo Hồ Thị Bích G có nghĩa vụ hoàn trả lại cho các hụi viên số tiền như sau:

  • - Lâm Thị Cẩm Nhung 217.580.000 đồng.
  • - Trương Văn Diệp 120.240.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị Sim E 24.680.000 đồng.
  • - Phan Thị H1 20.900.000 đồng.
  • - Trần Văn A 23.520.000 đồng.
  • - Huỳnh Văn H 50.550.000 đồng.
  • - Phan Thị B 33.880.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị P 162.490.000 đồng.
  • - Nguyễn Kim C 79.630.000 đồng.
  • - Đặng Bé C1 26.690.000 đồng.
  • - Lê Thanh N1 24.600.000 đồng.
  • - Trần Thúy K 113.300.000 đồng.
  • - Nguyễn Kim T 21.000.000 đồng.
  • - Trần Thị M1 7.720.000 đồng.
  • - Phan Thị N2 18.000.000 đồng.
  • - Lê Anh T1 1.860.000 đồng.
  • - Lâm Hồng Xuân 2.930.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị Như Ý 26.690.000 đồng.
  • - Trịnh Thanh T2 2.930.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị B1 28.000.000 đồng
  • - Nguyễn Thị N3 50.000.000 đồng
  • - Nguyễn Thị O 2.500.000 đồng
  • - Phạm Kiều T7 52.540.000 đồng.
  • - Trần Thị C3 6.100.000 đồng.
  • - Lê Chí C5 23.920.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị V 16.600.000 đồng.
  • - Trịnh Anh T8 14.600.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị L2 49.300.000 đồng.
  • - Trần Thị C4 27.400.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị T9 43.790.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo G có trách nhiệm trả cho các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là 1.296.440.000 (một tỷ hai trăm chín mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) được đối trừ số tiền bị cáo nộp khắc phục tại cơ quan điều tra Công an huyện T là 600.000.000 đồng, (sáu trăm triệu đồng) hiện Công an huyên T đang quản lý (được đối trừ theo tỷ lệ bằng nhau). Bị cáo G còn tiếp tục trả cho các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền 696.440.000 đồng (sáu trăm chín mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).

Trường hợp bị cáo G chậm trả thì phải chịu lãi theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Vật chứng, áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 12 danh sách hụi, thể hiện việc mở hụi và số hụi viên tham gia cũng như theo dõi việc hốt hụi

4. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí cho bị cáo.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Thới Bình;
  • - Công an huyện Thới Bình
  • - Chi cục THA huyện Thới Bình;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Quốc Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Bích Giang phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Phạt bị cáo Hồ Thị Bích Giang 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger