Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH BẾN TRE

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/DS-PT

Ngày: 09/01/2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hồng
Các Thẩm phán: Ông Phan Thanh Tòng; Bà Nguyễn Thị Rẻn
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thùy Dung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 425/2023/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2023/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4412/2023/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2023, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Cao Văn B, sinh năm: 1958;
    Trú tại: Số nhà D, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.
    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm: 1959;
    Trú tại: Số nhà D, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.
    (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 01/8/2023).
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Dương Bích V – Văn phòng Luật sư Lê Vũ Hồng H, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Dạ H1, sinh năm: 1968;
    Trú tại: Ấp L, xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • Ngân hàng N2;

      Địa chỉ trụ sở: Số B, đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội;

      (có yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).

    • Chị Cao Thị Diễm T, sinh năm: 1992;

      Trú tại: Ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

    • Anh Trương Nguyễn T1, sinh năm: 1993;

      Trú tại: Số nhà B, ấp L, xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre.

    • Bà Lê Thị N, sinh năm: 1959;

    • Chị Cao Ngọc Tuyền N1, sinh năm: 2002;

      Cùng trú tại: Số nhà D, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

      (Chị Cao Ngọc Tuyền N1 ủy quyền cho bà Lê Thị N tham gia tố tụng).

  4. Tại phiên tòa, bà N, bà H1, anh T1, chị T, Luật sư V có mặt.

    Người làm chứng:

    • Người làm chứng do nguyên đơn triệu tập: Bà Phạm Thị M, sinh năm: 1954;

      Trú tại: Ấp L, xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre.

    • Người làm chứng do bị đơn triệu tập: Bà Diệp Đài T2, sinh năm: 1968;

      Trú tại: Ấp L, xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre.

  5. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Cao Văn B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm;

Tại đơn khởi kiện, đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Cao Văn B và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Cao Thị Diễm T, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N và chị Cao Ngọc T3 N1 trình bày:

Ông Cao Văn B đứng tên quyền sử dụng đất thửa đất số 158, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre. Phía tây giáp thửa 159, tờ bản đồ số 20 do bà Nguyễn Thị Dạ H1 đứng tên quyền sử dụng đất.

Trước đây giữa các bên có trụ ranh rõ ràng, nhưng bà H1 muốn làm hàng rào nên đã nhổ trụ rào lấn qua đất của ông B. Ông B có nhờ cơ quan đo đạc khôi phục ranh nhưng bà H1 vẫn nhổ trụ ranh lấn đất. Nay ông B khởi kiện yêu cầu bà H1 trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 70.6m² .

Từ khi mẹ của ông B còn sống thì ranh đất giữa thửa 158 tờ bản đồ 20 (do bà Võ Thị D là mẹ bà H1 quản lý sử dụng) và thửa 159 tờ bản đồ số 20 (do mẹ ông B là bà Cao Thị X quản lý sử dụng) đã được xác định là một đường gấp khúc theo 04 trụ ranh gồm 04 điểm do phía nguyên đơn chỉ ranh là R,Y,U, I và 04 điểm này cũng chính là ranh địa chính theo đo đạc chính quy năm 2007 đến nay không thay đổi. Bà H1 sử dụng phần lối đi có diện tích theo đo đạc thực tế 70.6m² là lấn chiếm đất của ông B.

Từ thời bà X còn sống, khoảng năm 1993, bà D có hỏi xin bà X để được sử dụng lối đi tranh chấp trên, bà X đã đồng ý cho bà D đi, nay bà H1 sử dụng thì phải trả lại.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Dạ H1 trình bày:

Phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế là 70,6m² gia đình bà đã sử dụng hơn 30 năm. Phần đất này thuộc quyền sử dụng của mẹ bà là bà Võ Thị D, sau này bà được nhận thừa kế là thửa 159 tờ bản đồ số 20. Ranh đất của thửa đất trước đây mẹ bà sử dụng với phần đất thuộc thửa 158 tờ bản đồ số 20 do ông B sử dụng là ranh theo hiện trạng bà đang sử dụng, bà không lấn ranh của ông B. Tại biên bản xác minh ngày 20/07/2017, ông B đã ký thừa nhận điểm ranh giữa 03 thửa đất là đất của bà, của chị T và của ông B. Mặt khác, điểm ranh thống nhất giữa thửa đất bà H2, của bà và của ông B cũng đã được ba bên thống nhất. Từ điểm ranh thống nhất kéo thẳng đến trụ ranh là điểm ranh của ba thửa đất gồm đất của chị T, của ông B và của bà. Như vậy, ranh đất của bà và ông B trước đây là một đường thẳng từ điểm I đến điểm T. Hiện trạng này các bên sử dụng ổn định, mẹ bà đã sử dụng phần đất tranh chấp làm lối đi theo hiện trạng trên từ trước năm 2007 đã hơn 30 năm. Hồ sơ địa chính đo đạc năm 2007 xác định sai ranh. Bà không có lấn chiếm đất của ông B nên bà không đồng ý trả đất.

Nguyên đơn cho rằng ranh đất giữa hai thửa là một đường gấp khúc theo bốn điểm là không đúng. Từ năm 1993 khi bà Cao Thị X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ranh đất giữa đất bà X và đất của mẹ bà là một đường thẳng.

Lối đi này đã có gần trăm năm là do mẹ bà sử dụng có rất nhiều người địa phương chứng kiến. Cách đây 02 năm, chị Cao Thị Diễm T là con ông B xây nhà, có hỏi bà đi nhờ trên lối đi này, bà không đồng ý vì thấy ông B có lối đi trên đất ông B nên ông B khởi kiện. Trước đây ông B đều thừa nhận lối đi này thuộc quyền sử dụng của bà.

Năm 2017 khi bà Nguyễn Thị Dạ T4 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thừa kế từ mẹ, phía chính quyền địa phương có gặp ông B và làm việc về nguồn gốc thửa đất thì ông B đã ký vào biên bản xác minh xác nhận canh tác sử dụng ổn định, việc sử dụng đất thời điểm đó đến hiện nay theo hiện trạng không thay đổi.

Tại phiên tòa, bà H1 trình bày: Năm 2003 ông B có ký hiệp thương ranh xác định ranh đất giữa hai thửa là ranh theo hiện trạng sử dụng.

Tại Công văn số 51/NHN 0.CT-KHKD ngày 29/03/2023 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện C có nội dung:

Ngày 28/01/2021 ông Cao Văn B có ký hợp đồng vay tại Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện C số tiền 150.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 7108-LAV-202100799. Ngày 04/02/2021 nhận nợ số tiền 60.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng. Ngày đến hạn 03/02/2024. Đến ngày 29/03/2023 còn nợ 30.000.000 đồng. Ngân hàng không yêu cầu giải quyết số nợ vay mà ông B còn nợ trong vụ án này. Việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất) giữa ông Cao Văn B và bà Nguyễn Thị Dạ H1 không ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt Ngân hàng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trương Nguyễn T1 trình bày: Ông là con ruột của bà H1. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh do đất bà H1 nhận thừa kế không liên quan đến anh.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã quyết định:

Áp dụng các điều 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013; các điều 166, 175,176 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 26, 35, 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn B về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Dạ H1 trả phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 70,6m² ký hiệu thửa 158-4, thuộc một phần thửa 158, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Bà Nguyễn Thị Dạ H1 được trọn quyền sử dụng phần đất nêu trên (có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).

Xác định ranh giới đất thửa 1595 tờ bản đồ số 04 do hộ bà Nguyễn Thị Dạ H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thửa mới 159 tờ bản đồ số 20) với thửa đất 158 tờ bản đồ số 20 do ông Cao Văn B đứng tên quyền sử dụng là đường thẳng nối từ điểm T đến điểm I (có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo của các đương sự, quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 28/7/2023, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên kháng cáo.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trương Nguyễn T1 không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Cao Thị Diễm T không có ý kiến đối với kháng cáo của nguyên đơn.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 70,6m² ký hiệu thửa 158-4, thuộc một phần thửa 158, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre là nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Cao Văn B được Ủy ban nhân dân huyện C cấp vào năm 2010. Khi ông B được cấp quyền sử dụng đất, không ai khiếu nại hay tranh chấp gì; quy trình cấp là đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Hiện trạng phần đất này là đường đal do bị đơn làm và lấn chiếm để sử dụng, phía gia đình nguyên đơn chỉ cho bà Võ Thị D – mẹ của bị đơn sử dụng đến hết đời của bà D. Nay bà D đã chết, nguyên đơn không đồng ý cho bà H1 tiếp tục sử dụng phần đất này. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà H1 trả lại phần diện tích nêu trên cho nguyên đơn.

Người làm chứng do nguyên đơn triệu tập là bà Phạm Thị M trình bày: Bà là hàng xóm của gia đình nguyên đơn. Phần đất các bên đang tranh chấp, theo bà được biết thì trước đây, bà Cao Thị X là mẹ của nguyên đơn có cho bà Võ Thị D là mẹ của bị đơn đi nhờ. Ngoài ra, bà không còn làm chứng nội dung gì khác.

Người làm chứng do nguyên đơn triệu tập là bà Diệp Đài T2 trình bày: Trước đây khi bà còn nhỏ, gia đình bà có đến ở đậu tại phần đất của gia đình bị đơn. Khi muốn đi ra lộ công cộng thì gia đình bà phải đi ngang qua phần đất mà hiện nay hai bên đang tranh chấp. Theo bà được biết trước đó gia đình bị đơn đã quản lý, sử dụng phần đất này. Đến năm 1993, gia đình bà trả đất lại cho gia đình bị đơn để chuyển đi nơi khác sống thì mới không tiếp tục đi trên phần đất này.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm và đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N2 vắng mặt tại phiên tòa, có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt Ngân hàng N2.

[2] Về nội dung:

[2.1] Ông Cao Văn B khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Dạ H1 trả lại cho ông B phần đất bà H1 đã lấn chiếm có diện tích theo đo đạc thực tế là 70,6m² thuộc một phần thửa 158, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

[2.2] Thấy rằng, ông Cao Văn B hiện đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 158, tờ bản đồ số 20, diện tích 1.758,2m² tọa lạc tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA030757 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 23/9/2010. Phần đất có số thửa cũ là một phần thửa 76, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.920m² được Ủy ban nhân dân huyện C cấp lần đầu cho bà Cao Thị X – mẹ của ông B vào ngày 11/5/1993.

Thửa đất 158 của ông B giáp ranh với thửa đất số 159, tờ bản đồ số 20, diện tích 2.072,7m² (thửa cũ số 1595, tờ bản đồ số 4, diện tích 2.105m²) của bà Nguyễn Thị Dạ H1, được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 02/3/2004. Phần đất này là của bà Võ Thị D – mẹ của bà H1 để lại.

[2.3] Xét diện tích từ thửa cũ đổi sang thửa mới của cả hai bên đều có biến động so với diện tích ban đầu được cấp. Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp có cơ sở xác định:

Diện tích do đăng ký kê khai của phía bị đơn và diện tích được cấp cùng là 2.105m². Đến nay diện tích thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không thay đổi, chỉ có biến động về tên người sử dụng đất từ “Hộ Nguyễn Thị Dạ H1” sang tên người sử dụng đất là “Nguyễn Thị Dạ H1”.

Trong khi đó, diện tích theo đăng ký kê khai của bà Cao Thị X cũng bằng với diện tích được cấp là 1.920m² tại thửa 76, tờ bản đồ số 4. Tuy nhiên, khi ông B nhận thừa kế từ bà X thì diện tích chỉ còn 1.758,2m² (có số thửa mới là 158, tờ bản đồ số 20). Mặc dù tại phiên tòa nguyên đơn khẳng định phần đất này là do nhận thừa kế toàn bộ đất của bà X, biến động về diện tích không do việc chuyển nhượng hay tách thửa. Tuy nhiên, căn cứ vào Văn bản phân chia tài sản thừa kế lập ngày 27/7/2010 của những người người thừa kế theo pháp luật của bà X (được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã Q) có nội dung thể hiện thửa đất số 76 của bà Cao Thị X tách thửa 158, diện tích 1.758,2m² thuận phân cho ông Cao Văn B đứng tên và tách thửa 157, diện tích 301,2m² thuận phân cho bà Cao Thị H3 đứng tên. Từ đó, thấy rằng, khi chuyển sang cho ông Cao Văn B và bà Cao Thị H3 thì diện tích tổng cộng là 1.758,2m² + 301,2m² = 2.059,4m², khi trừ đi phần diện tích tranh chấp 70,6m² vẫn là nhiều hơn so với diện tích đất ban đầu của bà Cao Thị X được quyền sử dụng.

[2.4] Qua xem xét trích lục họa đồ thửa đất số 76 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà X năm 1993 (nay là thửa 158) thì cạnh giáp ranh với phần đất của bà H1 là đường thẳng, điều này phù hợp với trích lục bản đồ thửa đất 1595 (nay là thửa 159) của bà H1. Vì vậy, theo hồ sơ địa chính thể hiện tại họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 07/3/2023 do Tòa án thu thập thì cạnh giáp ranh giữa đất của ông B với đất của bà H1 là đoạn gấp khúc, trong đó có phần diện tích 70,6m² đang tranh chấp là không phù hợp.

Hơn nữa, tại Biên bản đo đạc ngày 14/11/2003, ông Cao Văn B có ký tên xác nhận ranh đất chủ sử dụng liền kề phần đất của bà H1 sử dụng, ranh theo biên bản này cũng là một đường thẳng. Tại phiên tòa, phía nguyên đơn cho rằng, chữ ký trong biên bản này không phải do ông B ký, tuy nhiên, thấy rằng, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của ông B là chị Cao Thị Diễm T có tham gia và đã được cấp sơ thẩm công khai chứng cứ này nhưng không có ý kiến, đồng thời, việc chị T tham gia tố tụng là phù hợp với phạm vi đại diện giữa hai bên. Nay phía nguyên đơn cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh chữ ký tại Biên bản đo đạc ngày 14/11/2003 không phải do ông B ký, vì vậy, không có cơ sở chấp nhận lời trình bày này của nguyên đơn.

Tại sơ đồ thửa đất được thể hiện trong biên bản, cạnh phía Nam của phần đất do bà H1 sử dụng có chiều dài 40,8m, trong khi cạnh phía Nam của phần đất này thể hiện tại Họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 07/3/2023 có độ dài là 38,11m + 1,81m (các điểm M, R, T) là tương đương nhau. Điều này cho thấy, vào năm 2003 bà H1, ông B đã xác định phần đất này thuộc quyền sử dụng của bà H1.

[2.5] Quá trình giải quyết vụ án, hai bên đương sự đều thừa nhận đã sử dụng ổn định phần đất của mình từ trước đến nay. Phần đất tranh chấp có diện tích 70,6m² hiện do bị đơn quản lý, sử dụng, có đổ bê tông làm đường đi, khi đó không ai tranh chấp. Điều này phù hợp với ý kiến của người làm chứng là bà Diệp Đài T2 cho rằng bị đơn đã quản lý, sử dụng phần đất này hơn 30 năm, phía nguyên đơn cũng thừa nhận đã cho gia đình bị đơn sử dụng phần đất này làm đường đi hơn 30 năm nay. Tuy nhiên, ông B còn đưa ra phản bác rằng mẹ ông là bà X chỉ cho bà D – mẹ của bà H1 sử dụng đất này để làm lối đi, nay bà H1 sử dụng tiếp thì ông B không đồng ý nên yêu cầu bà H1 trả lại. Xét lời trình bày này của ông B không được bà H1 thừa nhận, ông B cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh giữa gia đình ông và gia đình bà H1 có thỏa thuận về việc cho bà D đi trên phần đất này đến hết đời bà D nên không có cơ sở chấp nhận lời trình bày này của nguyên đơn.

Nguyên đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên không chấp nhận.

Từ những nhận định và căn cứ trên, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Cao Văn B; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Tuy nhiên, thấy rằng để đảm bảo quyền lợi của đương sự cũng như đảm bảo cho việc thi hành án, tại phần quyết định của bản án cần điều chỉnh bổ sung như sau: Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên cho phù hợp với nội dung bản án đã tuyên.

[3] Xét lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là không có cơ sở nên không chấp nhận.

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo thuộc trường hợp người cao tuổi được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Cao Văn B.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Cụ thể tuyên:

Áp dụng các điều 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013; các điều 166, 175, 176 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điều 26, 35, 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Văn B về việc yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Dạ H1 trả lại phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 70,6 m² ký hiệu thửa 158-4, thuộc một phần thửa 158, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

    Bà Nguyễn Thị Dạ H1 được quyền sử dụng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 70,6 m² ký hiệu thửa 158-4, thuộc một phần thửa 158, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

    (Có họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 07/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Bến Tre kèm theo là một phần không thể tách rời của bản án này).

    Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên cho phù hợp với nội dung bản án đã tuyên.

  2. Chi phí thu thập chứng cứ: Ông Cao Văn B chịu 13.073.000 (mười ba triệu không trăm bảy mươi ba nghìn) đồng và đã nộp xong

  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Cao Văn B là người cao tuổi thuộc trường hợp người cao tuổi được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Cao Văn B thuộc trường hợp người cao tuổi được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, P. KTNV&THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thế Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/DS-PT ngày 09/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 22/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Cao Văn B với bà Nguyễn Thị Dạ H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger