|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2024/HS-ST. Ngày 08 - 5 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Kim Thanh và bà Nguyễn Thị Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Trần Công Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2024/TLST - HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Thị H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 09/9/1990 tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 10/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Đặng Văn K và bà Nông Thị H1; có chồng Trần Văn N và 02 con.
* Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/7/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đặng Văn D, sinh năm 1996 (có mặt).
- Chị Bàn Thị T, sinh năm 1997 (có mặt).
- Anh Bàn Văn Đ, sinh năm 1986 (có mặt).
Đều trú tại: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
- Anh Bàn Văn Q, sinh năm 1993 (có mặt).
Trú tại: Thôn C, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
- Anh Đặng Văn H2, sinh năm 2001 (vắng mặt).
- Cháu Trương Văn H3, sinh ngày 15/7/2006 (vắng mặt). Người đại diện hợp pháp của cháu H3 là chị Trương Thị Y, sinh năm 1985 (có mặt).
Đều trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
1
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bàn Thị T, Bàn Văn Đ, Đặng Văn D: Bà Lại Khoa L - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).
* Người làm chứng: Anh Lèng Văn T1, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Trú tại: Thôn P, xã Đ, huyện N, tỉnh Tuyên Quang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối năm 2018, Đặng Thị H quen Lèng Văn T1, trú tại thôn P, xã Đ, huyện N, tỉnh Tuyên Quang và biết T1 là người môi giới, tuyển dụng người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Tháng 5/2023 thấy nhiều người có nhu cầu muốn đi xuất khẩu lao động tại Trung Quốc, H đã nhờ T1 tư vấn về thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Trung Quốc. T1 trao đổi với H công việc tại Trung Quốc làm ván bóc hoặc may mặc, tiền công khoảng 10.000.000 đồng/ 01 tháng, phải có Giấy xác nhận lý lịch tư pháp, hộ chiếu, giấy khám sức khỏe và chi phí khoảng 50.000.000 đồng/01 người và nói cho H biết công việc hiện tại của T1 là tư vấn, tuyển dụng người đi xuất khẩu lao động tại các nước Nhật Bản, Đài Loan, Đ, Úc, còn về đưa người xuất khẩu lao động sang Trung Quốc thì T1 chỉ tư vấn cho H biết. Sau đó H nảy sinh ý định đưa người sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp để thu lời. Trong thời gian tháng 6 và tháng 7 năm 2023, H đã 02 lần tổ chức đưa 06 người sang Campuchia lao động bất hợp pháp, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Ngày 11/5/2023, H sử dụng tài khoản Facebook “Thảo Hiền T2” đăng tải tin với nội dung “Cơ hội đi làm việc hợp pháp tại Trung Quốc Không yêu cầu học tiếng, Có hợp đồng, cách C1 25km. Có thể đi lại về VN khi có việc cần thiết, L1: 0984259488”. Sau khi H đăng tin, anh Đặng Văn D, trú tại thôn T, xã H, huyện H nhắn tin (qua M) hỏi H về việc làm ở Trung Quốc, H trao đổi với anh D biết về công việc là làm công nhân chế biến gỗ hoặc may mặc tại tỉnh Vân Nam và tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, tiền công từ 17.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng/ tháng, được hỗ trợ nhà ở, ăn uống; chi phí đi xuất khẩu lao động 50.000.000 đồng/ người.
Do không có việc làm, anh D bàn bạc và thống nhất với chị Bàn Thị T (vợ D), anh Bàn Văn Đ (bố nuôi anh D), trú tại thôn T, xã H cùng đi xuất khẩu lao động tại Trung Quốc. Ngày 15/5/2023, anh D nhắn tin cho H (qua M) để làm thủ tục cho anh D, chị T, anh Đ đi xuất khẩu lao động tại Trung Quốc, anh D và anh Đ đi trước, chị T do con nhỏ nên đi sau, H đồng ý bảo anh D, anh Đ làm hộ chiếu tại Công an tỉnh T, xin lý lịch tư pháp số 02 tại Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang và khám sức khỏe tại Bệnh viện G ở Hà Nội. Sau đó H nhờ T1 lấy Giấy khám sức khoẻ, khi T1 xem giấy thấy anh D, anh Đ bị viêm gan B không đủ điều kiện để đi xuất khẩu lao động tại Trung Quốc nên thông báo cho H biết. H bảo anh D, anh Đ uống thuốc điều trị, khám sức khỏe lại sau. Ngày 31/5/2023, anh D thông báo cho H biết chị T muốn đi xuất khẩu lao động tại Trung Quốc cùng chuyến với anh D, H bảo chị T làm hộ chiếu, Lý lịch tư pháp số 02, không phải khám sức khỏe.
2
Ngày 07/6/2023, H đến nhà anh D lấy hộ chiếu của anh D, anh Đ (chị T chưa được cấp hộ chiếu) và tiền chi phí đi xuất khẩu lao động tại Trung Quốc, anh D đưa cho H 10.000.000 đồng và chuyển khoản 90.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng B của anh D đến tài khoản Ngân hàng MB số 2990888888 của H, sau đó anh D viết giấy giao nhận tiền, H ký và ghi đã nhận đủ 100.000.000 đồng, còn chị T do chưa có tiền nên nói với H đưa sau, H đồng ý.
Thấy anh D, anh Đ bị viêm gan B không đủ điều kiện đi xuất khẩu lao động tại Trung Quốc nên H điện thoại cho Bàn Thị Q1 (tên gọi khác: H4, quen biết từ trước), đăng ký thường trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, hiện đang sinh sống và làm việc tại Campuchia để hỏi về công việc tại Campuchia, Q1 nói với H công ty của chồng Q1 đang cần người làm, không cần giấy giấy khám sức khỏe, chỉ cần hộ chiếu để đặt vé máy bay, không yêu cầu đặt cọc, Q1 sẽ trả công tìm người cho H là 3.000.000 đồng/ 01 người.
Ngày 17/6/2023, H thông báo cho anh D biết sẽ làm việc tại chi nhánh công ty Trung Quốc đặt tại Campuchia, công việc văn phòng, chăm sóc khách hàng, chỉ cần biết sử dụng máy tính, điện thoại thông minh, nhưng anh D, anh Đ, chị T không đồng ý đi sang Campuchia. H nói với mọi người sang Campuchia làm tăng cường tại chi nhánh công ty Trung Quốc một thời gian, sau đó sẽ chuyển sang Trung Quốc, việc nhẹ, lương cao và hiện tại visa của anh D, anh Đ, chị T đang ở Campuchia nên anh D, anh Đ, chị T đồng ý, H yêu cầu chị T chuyển 50.000.000 đồng và gửi ảnh hộ chiếu cho H để làm thủ tục. Do tài khoản Ngân hàng của H bị lỗi không giao dịch được, H nhờ tài khoản của anh Nguyễn Văn H5, trú tại xã Đ, huyện Q, thành phố Hà Nội (bạn của H) nhận chuyển tiền giúp, nhưng do tài khoản Ngân hàng của anh H5 cũng bị lỗi không giao dịch được, anh H5 đã cung cấp tài khoản Ngân hàng MB số [...] của anh Nguyễn Tiến H6 (bạn anh H5), trú tại xóm F Đ, xã Đ, huyện Q, Hà Nội để H cung cấp cho chị T chuyển tiền. Ngày 19/6/2023, chị T nhờ chị Hoàng Thị H7, trú tại thôn U, xã H, huyện H chuyển 50.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V1 số [...] của chị H7 đến tài khoản Ngân hàng MB số [...] của anh H7. Ngày 20/6/2023 anh H5 nói với anh H7 việc H nhờ tài khoản để chuyển tiền, sau khi kiểm tra đã nhận được tiền anh H7 chuyển 50.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng MB số 2990888888 của H.
Sau đó, H chụp ảnh hộ chiếu của anh D, anh Đ, chị T gửi cho Q1 để đặt mua vé máy bay. Sau khi đặt vé máy bay, Q1 chụp và gửi hình ảnh vé máy bay điện tử cho H để H thông báo cho anh D, anh Đ, chị T ngày 22/6/2023 sẽ bay sang Campuchia, H đón mọi người tại sân bay N. Ngày 22/6/2023, anh D, anh Đ, chị T thuê xe ô tô taxi đi từ nhà đến sân bay N, H đón và trả tiền xe 1.200.000 đồng, rồi đưa hộ chiếu cho anh D, anh Đ, gửi ảnh vé máy bay điện tử để anh D, anh Đ, chị T tự làm thủ tục lên máy bay, H chụp ảnh 03 người gửi cho Q1 và cho anh D tài khoản T3 “@hongluna” của Q1 để liên lạc khi đến Campuchia. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, anh D, anh Đ, chị T đến sân bay P, Campuchia được một người phụ nữ và một người đàn ông đón lên xe ô tô đưa đến Công ty X, ở S, Campuchia gặp Q1 được Q1 sắp xếp chỗ ở cho anh D, anh Đ, chị T.
Ngày 24/6/2023, Q1 đưa anh D, anh Đ, chị T đến công ty, người quản lý yêu cầu mọi người ký hợp đồng lao động (Hợp đồng song ngữ bằng tiếng Trung Quốc
3
và tiếng Việt Nam), thời hạn 08 tháng. Sau đó, anh D, anh Đ, chị T được học sử dụng máy tính, tạo tài khoản Facebook, Z ảo..., mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng. Làm việc được khoảng 10 ngày, do công việc không như thoả thuận, anh D gọi điện thoại cho H yêu cầu H đưa mọi người về, H bảo mọi người làm hết thời hạn hợp đồng thì về. Anh D, anh Đ, chị T nói với Q1 xin nghỉ việc, Q1 nói mọi người phải nộp 3.000 USD (đô la Mỹ) tiền chi phí sang Campuchia, tiền ăn, ở tại công ty, tiền bồi thường vi phạm hợp đồng và 2.000 USD tiền chi phí đi về Việt Nam, đồng thời Q1 cung cấp cho anh D 02 số tài khoản ngân hàng (0968292235 cindy và 61780301 huione). Sau đó anh D điện thoại về Việt Nam cho anh Bàn Văn T4 (là em họ anh D), trú tại thôn T, xã H, huyện H gửi 5.000 USD cho Q1. Ngày 03/7/2023, anh T4 chuyển 121.500.000 đồng (thông qua một người đàn ông), tương đương 5.000 USD để chuyển cho Q1. Sau khi nhận được tiền, Q1 đặt vé máy bay, đến ngày 04/7/2023 Q1 bố trí xe ô tô đưa anh D, anh Đ, chị T đến sân bay P, Campuchia bay về sân bay N, đồng thời Q1 chuyển số tiền chi phí đi về còn thừa là 25.500.000 đồng cho anh D từ tài khoản Ngân hàng V1 số [...], tên chủ tài khoản TRAN THỊ DUYEN đến tài khoản Ngân hàng M1 của anh D.
- Lần thứ hai: Cuối tháng 6/2023, H nhận được điện thoại của Q1 nói về việc Q1 chuẩn bị mở quán ăn tại Campuchia, cần người làm thuê, tiền công khoảng 10.000.000 đồng/ 01 tháng, nếu có ai muốn đi làm thì giới thiệu và Q1 sẽ trả tiền công cho H 3.000.000 đồng/ 01 người, chi phí đi sang Campuchia người đi tự chi trả. Sau đó, H có đến nhà anh Đặng Văn H2, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y ăn cơm và có gặp anh Bàn Văn Q, Trương Văn H3, cùng trú tại thôn Đ, xã T (đều là cháu của H). H nói với mọi người về việc cần tìm người làm việc tại quán ăn ở Campuchia, tiền công 10.000.000 đồng/ 01 tháng, nếu anh H2, anh H3, anh Q đồng ý đi thì H sẽ ứng trả trước tiền chi phí đi, khi nào làm được tiền thì trả cho H, mọi người đều đồng ý. Sau đó H đưa cho mỗi người 2.500.000 đồng để đi làm hộ chiếu tại Công an tỉnh T. Anh H3 đi làm và được cấp hộ chiếu trước rồi chụp ảnh gửi cho H, còn anh H2, anh Q làm hộ chiếu sau. Ngày 04/7/2023, H bảo mọi người xuống Hà Nội để chuẩn bị đi sang Campuchia.
Do hộ chiếu của anh H2, anh Q chưa gửi về Công an tỉnh T nên chiều ngày 04/7/2023, anh H2, anh H3, anh Q thuê xe ô tô taxi đi đến Cục Q2 Bộ C2 (tại Hà Nội) để trực tiếp lấy hộ chiếu. Sau khi lấy được hộ chiếu, anh H2, anh Q chụp ảnh hộ chiếu gửi cho H. H vào mạng đặt vé máy bay cho 03 người với tổng số tiền là 12.900.000 đồng (4.300.000 đồng/ 01 người). Do không đủ tiền mua vé máy bay, H điện thoại bảo Q1 mua vé máy bay, Q1 đồng ý. Sau khi đặt mua được vé máy bay, Q1 chụp gửi ảnh vé máy bay điện tử của mọi người cho H (thời gian bay 20 giờ 45 phút ngày 04/7/2023, bay quá cảnh từ sân bay N, Hà Nội đến B, Thái Lan rồi bay sang Phnôm P, Campuchia). Sau đó, H bảo anh H2, anh H3, anh Q đến sân bay Nội Bài làm thủ tục bay và dặn mọi người khai báo là đi du lịch, nếu khai đi lao động thì sẽ không được đi. Sau khi làm thủ tục lên máy bay mọi người tự chụp ảnh gửi cho H để H gửi cho Q1 đón. Khoảng 22 giờ 35 phút ngày 04/7/2023, anh H2, anh H3, anh Q đến sân bay B, Thái Lan; khoảng 09 giờ ngày 05/7/2023 đến sân bay P, Campuchia thì có người đàn ông đón, đưa mọi người đến quán ăn của Q1 (không rõ địa chỉ) và
4
làm việc tại quán từ ngày 06/7/2023, công việc là nhân viên phục vụ, bưng bê, dọn dẹp, rửa bát...
Ngày 10/7/2023, anh D tố giác hành vi của H với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình làm việc tại Campuchia được khoảng 10 ngày, anh H2, anh H3, anh Q biết được thông tin H bị khởi tố, bắt tạm giam nên mọi người nói với Q1 cho về Việt Nam, Q1 đồng ý cho anh H2, anh H3, anh Q 100 USD và đặt vé máy bay cho mọi người. Ngày 23/7/2023, anh H2, anh H3, anh Q về đến nhà.
Tổng số tiền H thu lợi bất chính là 148.800.000 đồng H đã chi tiêu cá nhân hết. Đối với số tiền Q1 thoả thuận trả cho H 3.000.000 đồng/ 01 người (06 người) khi đưa được người sang Campuchia, H khai chưa được Q1 đưa tiền.
Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSTQ-P2 ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Đặng Thị H về tội: Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 349 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đặng Văn D, chị Bàn Thị T và anh Bàn Văn Đ đều khai phù hợp lời khai của bị cáo, các anh chị đều trình bày sau khi trao đổi với bị cáo ban đầu đi Trung Quốc nhưng sau đó bị cáo báo thay đổi đi sang Campuchia làm 2 tháng rồi sang Trung Quốc các anh chị vẫn đồng ý, nhưng khi sang Campuchia các anh chị được đưa vào làm công việc lập các tài khoản ảo để lừa đảo người khác, nên làm được mấy ngày các anh chị đề nghị chị Q1 mua vé máy bay cho về Việt Nam. Anh D và chị T khẳng định đã đưa cho bị cáo 150.000.000 đồng để bị cáo đưa ra nước ngoài, các anh chị yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền nêu trên.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bàn Văn Q, chị Trương Thị Y (là người đại diện cho cháu Trương Văn H3), anh Đặng Văn H2 đều trình bày phù hợp với lời khai của bị cáo. Các anh chị đều xác định không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về dân sự.
Kết thúc phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị H phạm tội: Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài.
- Căn cứ: Điểm b, đ khoản 2 Điều 349; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Đặng Thị Hiền t 06 năm đến 07 năm tù, Thời hạn tù tính từ ngày cáo bị bắt tạm giam 17/7/2023.
Về số tiền bị cáo hưởng lợi bất chính 148.800.000đ xét thấy cần phải tịch thu để sung ngân sách Nhà nước. Quá trình điều tra bị cáo đã nộp 72.000.000đ cần trừ
5
cho bị cáo vào số tiền phải tịch thu. Số tiền còn lại 76.800.000đ cần truy thu tiếp của bị cáo để sung ngân sách Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 02 chiếc điện thoại di động bị cáo sử dụng để giao dịch, trao đổi đưa người đi ra nước ngoài lao động bất hợp pháp nên cần tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước. Đối với sổ hộ chiếu thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền theo thỏa thuận của bị cáo với người có tên Q1, hứa đưa được người sang Campuchia Quyết sẽ trả cho H 3.000.000đ/người, nhưng H chưa được nhận số tiền này cho nên không truy thu của bị cáo.
Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử, xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh D, anh Đ, chị T trình bày: Nhất trí tội danh, điều luật, các tình tiết giảm nhẹ và hình phạt Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng với bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và hứa sẽ hoàn trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đặng Thị H không có ý kiến tham gia tranh luận.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất, để bị cáo cải tạo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình, hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa không phát sinh thêm tình tiết mới. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2023, Đặng Thị H, cư trú tại tổ dân phố H, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đã 02 lần tổ chức đưa 06 người sang Campuchia lao động bất hợp pháp, cụ thể: Ngày 22/6/2023, Đặng Thị H tổ chức đưa anh Đặng Văn D, anh Bàn Văn Đ và chị Bàn Thị T, cùng trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang sang Campuchia lao động bất hợp pháp, thu lợi bất chính 148.800.000 đồng. Ngày 04/7/2023, Đặng Thị H tổ chức đưa anh Đặng Văn H2, anh Bàn Văn Q, anh Trương Văn H3, cùng trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y sang Campuchia lao động bất hợp pháp. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Đặng Thị H về tội Tổ chức cho người
6
khác trốn đi nước ngoài theo điểm b, đ khoản 2 Điều 349 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập cảnh, ảnh hưởng xấu đến an ninh khu vực biên giới. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[3] Đối với số tiền 150.000.000 đồng mà những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh D, anh Đ, chị T đã tự nguyện giao cho bị cáo với mục đích để bị cáo đưa ra nước ngoài lao động bất hợp pháp, trong đó: Bị cáo đã trả tiền thuê xe ô tô chở anh D, anh Đ, chị T đi từ Tuyên Quang đến sân bay N hết 1.200.000đ, số tiền còn lại 148.800.000₫ bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết. Trong quá trình điều tra bị cáo đã nộp lại số tiền 72.000.000đ, Hội đồng xét xử thấy rằng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều biết việc bị cáo tổ chức cho họ sang Campuchia để lao động bất hợp pháp nên giao dịch này là trái pháp luật, do đó không chấp nhận đề nghị của anh D, anh Đ, chị T về việc yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã đưa cho bị cáo. Vì vậy, số tiền 148.800.000đ bị cáo đã hưởng lợi bất chính cần phải tịch thu để sung ngân sách Nhà nước là đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, số tiền bị cáo đã nộp lại cần xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét các tình tiết giảm nhẹ trên được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
[5] Về mức án Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy phù hợp với tính chất mức độ tội phạm do bị cáo gây ra nên chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng:
Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 02 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo, trong đó có 1 cái nhãn hiệu Iphone 12 Promax và 01 cái nhãn hiệu Iphone 6S. Xét thấy những điện thoại này bị cáo dùng để liên lạc, trao đổi trong việc tuyển người đi nước ngoài lao động bất hợp pháp nên cần tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 sổ Hộ chiếu số C9370663 của Đặng Thị H không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo
7
và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định: Vào tháng 7/2023, Đặng Thị H còn có hành vi giới thiệu, đưa Tướng Thị C (sinh năm 2007); Hoàng Thị V (sinh năm 2004) cùng trú tại thôn K, xã H, huyện H; Vàng Thị D1 (sinh năm 2006), trú tại thôn K, xã K, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang sang Campuchia bán cho Trương Thị N1, cư trú tại thôn H, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình để tổ chức bán dâm nhưng do N1 hiện đang ở Campuchia nên chưa điều tra làm rõ hành vi phạm tội của H và N1. Ngày 04/02/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T ra Quyết định số 18/QĐ-ANĐT-Đ2 tách hành vi và tài liệu để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Ngày 12/7/2023, Đặng Thị H còn có hành vi đưa Đặng Văn D2, trú tại thôn Đ, xã C, huyện Y và Nguyễn Gia T5, trú tại tổ G, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang sang Campuchia, để dự khai trương quán của Bàn Thị Q1, khi anh D2, anh T5 đến sân bay N thì không liên lạc được với H nên không đi nữa, do hành vi không cấu thành tội phạm nên không đề cập hình thức xử lý. Đối với Lèng Văn T1 là người tư vấn cho H về thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Trung Quốc hợp pháp, không tham gia, không biết H tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài; Nguyễn Văn H5 và Nguyễn Văn H8 là người cung cấp tài khoản nhận tiền của chị Bàn Thị T chuyển cho, do không biết H nhận chuyển tiền để tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài nên không đề cập xử lý.
Đối với số tiền 96.000.000 đồng mà anh Đặng Văn D nhờ người nhà gửi cho Q1 để chi trả tiền chi phí sang Campuchia, tiền ăn, ở tại công ty, tiền bồi thường vi phạm hợp đồng và tiền chi phí đi về Việt Nam. Xét thấy, hành vi liên quan trực tiếp tới Bàn Thị Q1, quá trình điều tra xác định Q1 đang ở Campuchia, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ra Yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự số 1030/UTTPHS-CSĐT ngày 14/9/2023 gửi Bộ Tư pháp Campuchia đến nay chưa có kết quả. Cơ quan An ninh điều tra đã ra Quyết định số 19/QĐ-ANĐT-Đ2 ngày 04/02/2024 tách hành vi và tài liệu để tiếp tục kiểm tra, xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị H phạm tội: “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”.
1. Căn cứ: Điểm b, đ khoản 2 Điều 349; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Đặng Thị H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 17/7/2023.
8
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu của bị cáo số tiền do hưởng lợi bất chính mà có là 148.800.000₫ (Một trăm bốn mươi tám triệu, tám trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước, trừ cho bị cáo số tiền 72.000.000₫ (Bảy mươi hai triệu đồng) đã nộp trong quá trình điều tra vào số tiền phải tịch thu. Số tiền còn lại là 76.800.000đ (Bảy mươi sáu triệu, tám trăm nghìn đồng) tiếp tục truy thu đối với bị cáo để sung ngân sách Nhà nước (Số tiền 72.000.000đ hiện đã được Sở Tài chính tỉnh T chuyển đến tài khoản của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang theo Quyết định số 41/QĐ-STC ngày 22/3/2024 của Sở Tài chính tỉnh T).
Khoản tiền truy thu kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo chậm thi hành thì còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên.
- Tịch thu của bị cáo 02 chiếc điện thoại di động để bán sung ngân sách Nhà nước: Điện thoại được niêm phong trong 01 bì, tại mép dán có chữ ký của Đặng Thị H, Nguyễn Quang H9 và dấu tròn của Phòng C3 Công an tỉnh T. Trên bì ghi thông tin đồ vật được niêm phong là: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, vỏ màu xám; số máy MG9P3LL/A; số IMΕΙ 359735199124981; MEID 359735199124498 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, vỏ màu vàng; số máy MN1U2LL/A; số IMEI 353800088471814; MEID 35380008847181.
- Hoàn trả lại cho bị cáo 01 sổ Hộ chiếu được niêm phong trong 01 bì, tại mép dán có chữ ký của Hoàng Văn D3, Phạm Xuân H10 và dấu tròn của Phòng C3 Công an tỉnh T. Trên bì ghi thông tin đồ vật được niêm phong là: 01 sổ Hộ chiếu số C9370663, họ và tên Đặng Thị H, Quốc tịch: Việt Nam, ngày sinh 09/09/1990; Nơi sinh: Tuyên Quang; Giới tính: Nữ; Số GCMND: [...]; Ngày cấp: 30/10/2020; Có giá trị đến 30/10/2030; Nơi cấp: Cục Q2.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T và Cục thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang lập ngày 20/3/2024).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Thị H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (được kháng cáo phần có liên quan) có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 08/5/2024. Anh Đặng Văn H2 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
9
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trịnh Thị Kim Thanh – Nguyễn Thị Tâm |
Hồ Thanh Sơn |
Nơi nhận:
- - TAND cấp cao tại Hà Nội;
- - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- - Cục THADS tỉnh Tuyên Quang;
- - Công an tỉnh (CQANĐT + Phòng hồ sơ);
- - Trại tạm giam CAT;
- - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
- - Bị cáo; TGV pháp lý;
- - Người có QLNVLQ;
- - Văn phòng TAND tỉnh;
- - Lưu HS + Toà án.
|
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thanh Sơn |
10
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị H phạm tội Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
