Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08/5/2024

Về: “Ly hôn, giải quyết nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Võ Kim Ngân

Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phước Lộc
  2. Ông Ngô Rạng Đông

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Chung – Thư ký Toà án thành phố Phú Quốc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc: Ông Nguyễn Văn Tặng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 307/2023/TLST-HNGĐ, ngày 06/11/2023, về: "Ly hôn, giải quyết nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Trương Thị Ái V, sinh năm 1982
  • Địa chỉ: Tổ D, ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
  • Bị đơn: Ông Phạm Hoàng T, sinh năm 1983
  • Địa chỉ: Tổ D, ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

(Các đương sự đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn xin ly hôn ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Thị Ái V trình bày: Bà V và ông Phạm Hoàng T tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang ngày 14/7/2015, số 63 – quyển 01/2015. Sau một thời gian chung sống giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng kéo dài do vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau; vợ chồng xảy ra mâu thuẫn về kinh tế của gia đình; đồng thời anh T không quan tâm chăm sóc vợ con mà ngược lại thường hay ăn nhậu say sỉn về chửi mắng, quậy phá gia đình. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc và xét mục đích hôn nhân không đạt được nên bà V yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có với nhau 01 người con chung là Phạm Hữu T1, sinh ngày 22/12/2015. Khi ly hôn bà V yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Việc cấp dưỡng nuôi con do hai vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Vợ chồng không có công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án bị đơn ông Phạm Hoàng T có ý kiến: Về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản và công nợ chung vợ bà Trương Thị Ái V trình bày là đúng. Về nguyên nhân dẫn đến việc vợ chồng mâu thuẫn là có thật; do có mâu thuẫn từ việc bà V cầm cố tài sản để trả nợ cho em ruột bà V nhưng không thông qua ý kiến của ông T. Nay bà V yêu cầu ly hôn ông T có ý kiến:

Về hôn nhân: Ông T không đồng ý ly hôn với bà V nhưng trong trường hợp bà V không đồng ý đoàn tụ gia đình mà cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, ông T yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn đơn phương của bà V theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có với nhau 01 người con chung là Phạm Hữu T1, sinh ngày 22/12/2015. Khi ly hôn ông T đồng ý giao người con chung cho bà V nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); ông T không cấp dưỡng nuôi con cùng bà V.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Vợ chồng không có công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc có ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của BLTTDS. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án: Người tham gia tố tụng là nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của bà Trương Thị Ái V về việc xin ly hôn với ông Phạm Hoàng T là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hôn nhân giữa bà V và ông T là hợp pháp có đăng ký kết hôn, được pháp luật thừa nhận, quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn không hàn gắn được. Căn cứ Điều 9, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị yêu cầu ly hôn của bà V. Về con chung: Bà V có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung Phạm Hữu T1, sinh ngày 22/12/2015; ông T đồng ý giao người con chung Phạm Hữu T1 cho bà V nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; đồng thời người con chung cũng có nguyện vọng ở cùng với mẹ là bà Trương Thị Ái V khi cha mẹ ly hôn. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao người con chung cho bà V nuôi dưỡng là phù hợp. Bà V không yêu cầu xem xét việc cấp dưỡng nuôi con, đề nghị miễn xét. Về tài sản chung: Bà Trương Thị Ái V và ông Phạm Hoàng T xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, đề nghị miễn xét. Về công nợ chung: Bà Trương Thị Ái V và ông Phạm Hoàng T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Trương Thị Ái V và bị đơn ông Phạm Hoàng T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xử vắng mặt bà Trương Thị Ái V và ông Phạm Hoàng T.

[2]. Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Ái V và bị đơn ông Phạm Hoàng T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố P ngày 14/7/2015 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình giải quyết vụ án, bà Trương Thị Ái V xác định: Khả năng đoàn tụ không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà V giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T. Đồng thời ông T yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật trong trường hợp bà V không đồng ý đoàn tụ gia đình mà cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trương Thị Ái V với ông Phạm Hoàng T.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống bà V và ông T có với nhau 01 người con chung là Phạm Hữu T1, sinh ngày 22/12/2015; bà V có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung đến tuổi trưởng thành, ông T đồng ý giao người con chung cho bà V nuôi dưỡng, chăm sóc; đồng thời người con chung Phạm Hữu T1 cũng có nguyện vọng ở cùng với mẹ là bà V khi cha mẹ ly hôn. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất giao người con chung Phạm Hữu T1 cho bà Trương Thị Ái V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trường thành.

Việc cấp dưỡng dưỡng nuôi con bà Trương Thị Ái V không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên không xem xét.

- Về tài sản chung: Bà Trương Thị Ái V và ông Phạm Hoàng T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

- Về công nợ chung: Bà Trương Thị Ái V và ông Phạm Hoàng T xác định không có công nợ chung, nên không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Trương Thị Ái V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng các Điều 28, 35, 147, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Ái V được ly hôn với ông Phạm Hoàng T.
  2. Về con chung:
    • - Giao cháu Phạm Hữu T1, sinh ngày 22/12/2015 cho bà Trương Thị Ái V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi);
    • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: do bà V không yêu cầu, nên không xem xét.

    Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.

    Không bên nào được ngăn cản quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  3. Về tài sản chung: Bà Trương Thị Ái V và ông Phạm Hoàng T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  4. Về công nợ chung: Bà Trương Thị Ái V và ông Phạm Hoàng T xác định không có công nợ chung, nên không xem xét.
  5. Về án phí: Bà Trương Thị Ái V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 0009614 ngày 25/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, bà V không phải nộp thêm.

    Ông Phạm Hoàng T không phải nộp án phí sơ thẩm.

  6. Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết tại địa phương nơi cư trú để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tp Phú Quốc;
  • - THADS TP Phú Quốc;
  • - UBND xã Cửa Dương, tP Phú Quốc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Võ Kim Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, giải quyết nuôi con chung

  • Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, giải quyết nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger