|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2023/HNGĐ-PT
Ngày: 07/11/2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Phạm Thị Mai Hoa |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Chất |
| Bà Nguyễn Thị Thu Hiền |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử số 3, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số 23/2023/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 40/2023/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐ - PT ngày 19 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Đàm Thị H, sinh năm 1982.
- ĐKHKTT: Số D N, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Nơi cư trú: Khu dân cư T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- - Bị đơn: Anh Nghiêm Trọng L, sinh năm 1980.
- ĐKHKTT và nơi cư trú: Số D N, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- - Người làm chứng:
- + Anh Đàm Văn T, sinh năm 1985.
- + Ông Đàm Văn P, sinh năm 1960.
- Đều có địa chỉ: Khu dân cư T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- + Ông Nghiêm Trọng B, sinh năm 1951.
- + Bà Đinh Thị N, sinh năm 1957.
- Đều có địa chỉ: Số C N, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- - Người kháng cáo: Anh Nghiêm Trọng L là bị đơn.
Chị H, anh L, ông B, bà N, anh T (có mặt tại phiên tòa); ông P (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, chị Đàm Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nghiêm Trọng L tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố H vào ngày 10 tháng 11 năm 2006. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 02 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn do anh L thay đổi tính cách, thường xuyên uống rượu say rồi vô cớ chửi mắng vợ con, thậm chí nhiều lần còn đánh vợ, đánh con. Mặt khác, anh L không có sự quyết đoán khi xử lý các vấn đề của cuộc sống gia đình mà phụ thuộc vào bố mẹ, bố mẹ bảo sao thì làm thế. Trong sinh hoạt hàng ngày, anh L không chia sẻ, hỗ trợ chị chăm sóc các con. Chị nhiều lần góp ý nhưng anh L không tiếp thu và vẫn thường xuyên chửi mắng chị, nhiều lần còn xúc phạm cả bố mẹ đẻ của chị. Tình trạng này kéo dài nhiều năm nhưng không có biện pháp khắc phục làm cho chị thấy căng thẳng, mệt mỏi. Do không thể tiếp tục duy trì cuộc sống như vậy được nữa nên chị đã đưa hai con về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ từ tháng 10 năm 2022 cho đến nay. Anh L cùng bố mẹ anh L có đến nhà bố mẹ chị để thông báo không chấp nhận chị quay về đoàn tụ cùng anh L và to tiếng chửi bới bố mẹ, người thân của chị. Xác định mâu thuẫn đã trầm trọng và tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn anh L.
- Về quan hệ con chung: Chị và anh L có 02 con chung là Nghiêm Trọng Tùng A - sinh ngày 13 tháng 12 năm 2007, Nghiêm Trọng Tiến Đ - sinh ngày 24 tháng 11 năm 2014. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung cho tới khi thành niên và tự nguyện không yêu cầu anh L phải đóng góp tiền nuôi con cùng chị.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án anh Nghiêm Trọng L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh L trình bày thống nhất với chị Đàm Thị H về thời gian, điều kiện kết hôn của vợ chồng. Quá trình chung sống, vợ chồng anh không xảy ra mâu thuẫn gì; anh không chửi mắng, không đánh chị H và vẫn quan tâm đến con cái hàng ngày. Ngày 26 tháng 10 năm 2022, chị H tự ý đưa các con đi chỗ khác ở đến nay không về đoàn tụ cùng anh. Anh đã tìm gọi nhưng chị H không về và không nói nguyên nhân vì sao không về đoàn tụ cùng anh. Anh xác định chị H là người vợ tốt và anh vẫn còn tình cảm với chị H nên anh không nhất trí ly hôn chị H.
- Về quan hệ con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Nghiêm Trọng Tùng A - sinh ngày 13 tháng 12 năm 2007, Nghiêm Trọng Tiến Đ - sinh ngày 24 tháng 11 năm 2014. Trường hợp phải ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và tự nguyện không yêu cầu chị H phải đóng góp tiền nuôi con cùng anh.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Người làm chứng:
- Ông Nghiêm Trọng B và bà Đinh Thị N (bố mẹ đẻ của anh L) trình bày: Quá trình chung sống, anh L và chị H không xảy ra mâu thuẫn gì lớn, chỉ thỉnh thoảng xảy ra bất đồng về lời nói, ngôn ngữ. Gần đây chị H muốn cho con đi du học nước ngoài và muốn ông, bà sang tên nhà đất cho vợ chồng để chứng minh khả năng tài chính nhưng ông, bà không đồng ý. Vợ chồng bàn nhau vay tiền nhưng chị H không muốn ký tên vay tiền mà chỉ để một mình anh L ký vay tiền, anh L không đồng ý nên vợ chồng xảy ra to tiếng. Từ đó chị H thể hiện thái độ không tôn trọng ông, bà và anh L. Đêm ngày 26 tháng 10 năm 2022, chị H tự đưa các con về nhà bố mẹ đẻ ở. Ông, bà và anh L nhiều lần động viên chị H quay về nhưng chị H không về. Có lần anh L muốn gặp bố mẹ đẻ của chị H để nhờ thuyết phục chị H quay về nhưng chị H không cho gặp nên anh L có chửi bậy mấy câu. Tuy không chấp nhận được cách cư xử của chị H nhưng vì thương các cháu nên ông, bà đề nghị Tòa án hòa giải cho anh L, chị H đoàn tụ.
- Ông Đàm Văn P và anh Đàm Văn T (bố đẻ và em trai của chị H) trình bày: Sau khi kết hôn, nhiều lần chị H về nhà đẻ trong trạng thái mệt mỏi, tinh thần căng thẳng, có lần tay chân bầm tím. Khi hỏi chuyện thì được chị H chia sẻ do vợ chồng mâu thuẫn, anh L thường xuyên chửi mắng chị, có lần còn đánh chị. Gia đình góp ý, động viên nhưng anh L và chị H vẫn không chung sống hòa hợp được. Chị H cùng hai con đã về nhà đẻ ở từ tháng 10 năm 2022 cho đến nay. Anh L và bố mẹ anh L có đến thông báo chấm dứt quan hệ thông gia, không chấp nhận chị H quay về. Do không thể chấp nhận được cách cư xử của gia đình anh L nên ông P, anh T đề nghị Tòa án chấp nhận cho chị H được ly hôn anh L.
* Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh L và chị H sinh sống:
Qua xác minh, đại diện Khu dân cư S, phường B phản ánh chị H đã chuyển đi ở nơi khác từ nhiều tháng nay nhưng vì các đương sự không đề nghị hòa giải nên khu dân cư không nắm bắt được nguyên nhân anh L, chị H sống ly thân và giữa hai bên có xảy ra mâu thuẫn gì không. Một số người dân sinh sống ở khu T, phường T phản ánh chị H về sinh sống ở nhà ông P từ tháng 10 năm 2022 đến nay. Anh L có đến nhà ông P mấy lần và họ chứng kiến anh L to tiếng chửi bới xúc phạm chị H và gia đình ông P.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 40/2023/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đã quyết định:
Áp dụng các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đàm Thị H và anh Nghiêm Trọng L.
- Về con chung: Giao con chung Nghiêm Trọng Tùng A – sinh ngày 13 tháng 12 năm 2007 cho anh Nghiêm Trọng L trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Nghiêm Trọng Tiến Đ – sinh ngày 24 tháng 11 năm 2014 cho chị Đàm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi con chung thành niên. Anh L, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01 tháng 8 năm 2023, anh Nghiêm Trọng L có đơn kháng cáo, với nội dung: Chưa thuận tình ly hôn vì hai con còn đang tuổi ăn học, khi nào các con lớn hiểu biết đúng sai thì lúc đó anh nhờ Tòa án cho anh được ly hôn với chị H; Đề nghị Tòa án giao cả cháu N1 Trong Đ cho anh trực tiếp nuôi dưỡng; đính chính từ sai trong bản án.
Tại phiên tòa: Anh Nghiêm Trọng L giữ nguyên nội dung kháng cáo và xác định đã nhận được quyết định đính chính từ sai trong bản án sơ thẩm; chị Đàm Thị H không nhất trí với nội dung kháng cáo của anh V đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu:
Về tố tụng: Cấp phúc thẩm thực hiện đúng pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn kháng cáo hợp lệ nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về yêu cầu kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Không chấp nhận kháng cáo của anh Nghiêm Trọng L: Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình số thẩm số 40/2023/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Về án phí: Anh L phải chịu 300.000 án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và ý kiến của các bên đương sự; căn cứ vào các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Kháng cáo của anh Nghiêm Trọng L trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên xác định là kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của anh Nghiêm Trọng L:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị H và anh Nghiêm Trọng L tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương ngày 10 tháng 11 năm 2006. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị H cho rằng cuộc sống chung không hạnh phúc do anh L thường xuyên to tiếng chửi mắng chị, thậm chí có lần còn đánh chị và không chia sẻ, hỗ trợ chị chăm sóc con cái. Anh L cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì và anh vẫn quan tâm đến vợ con. Tuy nhiên, các con chung của anh, chị là cháu Nghiêm T1 Tùng A và cháu Nghiêm Trọng Tiến Đ đều trình bày các cháu nhiều lần chứng kiến anh L quát mắng, chửi bới, đánh chị H; anh L không chăm lo, không hỏi han gì đến sinh hoạt, học tập thường ngày của các cháu. Tại phiên tòa, anh L và bố mẹ anh L đều xác định giữa anh L, chị H xảy ra bất đồng quan điểm về định hướng phát triển cho con cái và vấn đề kinh tế, tài chính. Thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2022 cho đến nay không có biện pháp đoàn tụ. Như vậy, việc chị H, anh L không sống chung với nhau và không có sự quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ với nhau là vi phạm tình nghĩa vợ chồng. Nay chị H xác định không còn tình cảm với anh L; anh L không có biện pháp để vợ chồng đoàn tụ. Nhận thấy hôn nhân giữa chị H và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử cho chị H được ly hôn anh L theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp pháp luật nên không có căn cứ chấp nhân kháng cáo của anh Nghiêm Trọng L.
- Về con chung: Chị H và anh L có 02 con chung là cháu Nghiêm Trọng Tùng A - sinh ngày 13 tháng 12 năm 2007 và cháu Nghiêm Trọng Tiến Đ - sinh ngày 24 tháng 11 năm 2014. Chị H và anh L đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung. Cháu Nghiêm Trọng Tùng A và cháu Nghiêm Trọng Tiến Đ khi được Tòa án hỏi đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Xét chị H và anh L đều đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, để đảm bảo điều kiện cho con chung về mọi mặt nên Tòa án cấp sơ thẩm đã giao cho anh L và chị H mỗi người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung là phù hợp pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh L.
[3]. Các nội dung khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4]. Về án phí: Anh Nghiêm Trọng L kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148, Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của anh Nghiêm Trọng L. Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 40/2023/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương.
- Về án phí: Anh Nghiêm Trọng L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm, được đối trừ số tiền 300.000 đồng anh V đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0000412 ngày 03 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (anh L đã thực hiện xong).
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực thi hành.
Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 07/11/2023./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 22/2023/HNGĐ-PT ngày 07/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 22/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đàm Thị H xin ly hôn Nguyên Trọng L và tranh chấp nuôi con chung
