Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KRÔNG PA

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày 07 - 6 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Khắc Toản.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ksor H’Qúa và ông Nguyễn Văn Liễu

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga– Thư ký Toà án, Toà án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Ksor Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2024/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Rah Lan T, sinh năm 1990 tại huyện K, tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Buôn T, xã U, huyện K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ksor B và bà Rah Lan H (đã chết); Tiền sự: Không;

Nhân thân: xấu:

  • + Tại bản án số 23/2013/HSST ngày 18/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Tại bản án số 30/2015/HSST ngày 21/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Tại bản án số 11/2019/HSST ngày 22/5/2019 của TAND huyện K, tỉnh Gia Lai tuyên phạt Rah Lan T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền án:

  • Tại bản án số 15/2017/HSST ngày 24/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/01/2024 và tạm giam liên tục cho đến nay, hiện bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bùi Quang T1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G. Có mặt.

- Bị hại: Ông Ksor T2, sinh năm 1988.

Nơi cư trú: Buôn Toát, xã I, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ksor K, sinh năm 2000

Nơi cư trú: Buôn T, xã U, huyện K, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Rah Lan L, sinh năm 1998. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: Buôn Tiang, xã U, huyện K, tỉnh Gia Lai.
  • + Anh Rah Lan K1, sinh năm 2003. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: Buôn Tiang, xã U, huyện K, tỉnh Gia Lai.
  • + Chị Ksor H1, sinh năm 2002. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: Buôn Phùm, xã I, huyện K, tỉnh Gia Lai.

- Người phiên dịch tiếng Jrai: Anh Nay Dăm T3, sinh năm 1986. Có mặt.

Nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 01/12/2019, sau khi đi ăn nhà mả tại buôn T, xã I, huyện K thì Rah Lan T đi về nhà tại buôn T, xã U, huyện K. Trên đường về, thấy đói bụng nên T có ý định vào nhà dân trộm cơm để ăn. Lúc này nhà anh Ksor T2 ở buôn T, xã I, huyện K đang mở cửa, đèn điện đã tắt, nghĩ mọi người trong nhà đã ngủ nên T đi lên cầu thang vào nhà. Thấy anh T2 và em rể của anh T2 đang ngủ ở phòng khách, T đi xuống phòng bếp để tìm đồ ăn nhưng đã hết. T đi lên phòng khách thấy một chiếc điện thoại OPPO A37, màu trắng-xám đang được cắm sạc và để ở sát cột nhà. Thúy rút dây sạc pin ra, lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi rồi đi bộ về nhà. Khoảng 19 giờ 00' ngày 02/12/2019, T đến nhà R Lan Líp ở cùng buôn để uống rượu cùng với L1 và một số người khác. Lúc uống rượu, T đưa chiếc điện thoại trộm cắp được cho L1 mượn để sử dụng, L1 vào danh bạ trong ứng dụng mocha gọi cho một tài khoản bất kỳ thì gặp chị Ksor H1. Sau một lúc nói chuyện với chị H1 thì L1 tắt điện thoại và đưa lại cho T. Khoảng 07 giờ 00' ngày 03/12/2019, T mở điện thoại vào ứng dụng mocha gọi cho chị H1 rồi đưa điện thoại cho R Lan Khiết nói chuyện, sau khoảng hai phút thì K1 tắt điện thoại và đưa lại cho T. Khoảng 09 giờ 00' ngày 05/12/2019, trong quá trình uống rượu với Ksor K thì T đã bán chiếc điện thoại trộm cắp cho K với giá 600.000 đồng. Sau khi xảy ra vụ việc, T đã bỏ trốn khỏi địa phương. Tháng 01/2020, K đi nghĩa vụ quân sự và để chiếc điện thoại di động nêu trên ở nhà nhưng không nhớ rõ để ở vị trí nào. Tháng 01/2022, sau khi xuất ngũ, K về tìm chiếc điện thoại di dộng thì không thấy.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 20/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37, màu trắng-xám của ông Ksor T2 bị chiếm đoạt có giá trị 1.200.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại vắng mặt không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

01 (Một) 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37, màu trắng-xám. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không có kết quả.

Đối với Rah Lan L2, Rah Lan K1 và Ksor K khi sử dụng và mua chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A37, màu trắng-xám, thì Rah Lan T không nói gì về nguồn gốc của chiếc điện thoại nên L2, K1, K không biết chiếc điện thoại trên do T phạm tội mà có. Vì vậy, không có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Rah Lan L2, Rah Lan K1, Ksor K về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 BLHS, cũng như các tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Rah Lan T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.

Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt có ý kiến không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Rah Lan T phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX):

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS: Xử phạt bị cáo Rah Lan T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Truy thu số tiền bị cáo thu lợi bất chính 600.000 đồng. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm đồng ý với Kiểm sát sát về tội danh, điều luật, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất Viện kiểm sát đề nghị.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an huyện K, tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 01/12/2019 nhằm mục đích có tiền tiêu xài cá nhân, nên bị cáo Rah Lan T đã lợi dụng thời điểm đêm tối, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37, màu trắng-xám của ông Ksor T2. Giá trị tài sản mà bị cáo Rah Lan T trực tiếp chiếm đoạt trị giá 1.200.000 đồng.

Bị cáo Rah Lan T đã trực tiếp lén lút, bí mật trộm cắp tài sản của bị hại với động cơ, mục đích tư lợi cá nhân lấy làm phương tiện đi lại của mình, đã xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân là đã phạm vào tội trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo rõ ràng là có lỗi và sai trái với đường lối, chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta, nay phải chịu trách nhiệm hình sự và hậu quả pháp lý đã gây ra.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung của bản cáo trạng, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Rah Lan T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa truy tố bị cáo về các hành vi theo tội danh trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[3] Về tính chất, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo Rah Lan T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi nguy hiểm và gây hậu quả xấu cho xã hội làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện. Nay cần xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để cá thể hóa hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo là điều cần thiết.

Trong vụ án này thì bị cáo T là người tự khởi xướng một mình trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc trường hợp chưa được xóa án tích về tội phạm này mà còn vi phạm nên phải chịu toàn bộ trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nhưng có nhân thân xấu là: Tại bản án số 23/2013/HSST ngày 18/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại bản án số 30/2015/HSST ngày 21/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại bản án số 11/2019/HSST ngày 22/5/2019 của TAND huyện K, tỉnh Gia Lai tuyên phạt Rah Lan T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo có tiền án là: Tại bản án số 15/2017/HSST ngày 24/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện K, Gia Lai tuyên phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Nhưng trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành thật khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS áp dụng cho bị cáo.

Ngoài ra các bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn của huyện K, không biết chữ, có nhận thức pháp luật hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS áp dụng cho bị cáo.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát thì HĐXX thấy bị cáo Rah Lan T đã từng nhiều lần bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản nhưng vì ham lợi bất chính, nên đã chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài, thể hiện bị cáo lười lao động nên thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để nhằm mục đích trừng trị nhưng cũng giúp cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, đồng thời qua đó răn đe và phòng ngừa loại tội phạm này tái diễn trên địa bàn.

Nên cần chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên và lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo.

[4] Về vấn đề liên quan khác:

01 (Một) 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37, màu trắng-xám. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không có kết quả. Nay HĐXX không xem xét đến.

Đối với anh Rah Lan L2, anh Rah Lan K1 và anh Ksor K khi sử dụng và mua chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A37, màu trắng-xám, thì bị cáo T không nói gì về nguồn gốc của điện thoại nên anh L2, anh K1, anh K không biết chiếc điện thoại trên do T phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện K không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh L2, anh K1, anh K về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, cũng như các tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác là phù hợp. Nay HĐXX không xem xét đến.

Bị cáo chiếm đoạt điện thoại của bị hại đã bán cho anh K được 600.000 đồng, đây là tiền bị cáo thu lợi bất chính mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt có quan điểm không yêu cầu bị cáo bồi thường, không có yêu cầu gì về dân sự nữa, nên HĐXX không xem xét đến.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo Rah Lan T không có nghề nghiệp gì. Bản thân không có tài sản riêng gì cho nên HĐXX quyết định không phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về án phí:

Bị cáo T là người dân tộc thiểu số cư trú tại xã U, huyện K, tỉnh Gia Lai là xã đặc biệt khó khăn của huyện K theo quy định của Chính phủ, đồng thời bị cáo có đơn xin miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ vào Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, HĐXX quyết định miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Rah Lan T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS:
    Xử phạt bị cáo Rah Lan T 01 (Một) năm tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 17/01/2024.
  2. Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
    Truy thu của bị cáo Rah Lan T số tiền thu lợi bất chính 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
  3. Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
    Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Rah Lan T.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/6/2024), còn bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật để yêu cầu Toà án Nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND h. Krông Pa;
  • - Công an h. Krông Pa;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Chi cục THADS h. Krông Pa;
  • - Lưu HS vụ án, THAHS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Đỗ Khắc Toản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Rah Lan T phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger