Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯ SÊ

TỈNH GIA LAI

Số: 22/2024/HSST

Ngày: 07/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiếu

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Văn Thiên và bà Trần Thị Thuý Anh.

- Thư ký phiên tòa : Bà Lê Thanh Hường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Băng – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/ HSST ngày 04/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: Số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 24/5/2024 đối với bị cáo:

Trịnh Văn S (tên khác: Sức Bé), sinh ngày 14 tháng 02 năm: 1991, tại huyện C, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn B và bà Phạm Thị Đ; có vợ: Nguyễn Thị Mộng M (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự, từ 11/3/2021 đến 12/9/2022 chấp hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Gia Lai theo Giấy chứng nhận chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 69/CN-CSTVCNMT ngày 12/9/2022, nhưng ngày 13/01/2024, S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nên chưa được xoá tiền sự này; nhân thân: Ngày 31/5/2007 bị T án nhân dân tỉnh G tuyên phạt 02 năm tù về tội Cướp tài sản và phải chịu 50.000 đồng án phí HSST theo Bản án số 73/2007/HSST, bị cáo đi chấp hành án tại Trại giam Đ1 đến ngày 15/7/2008 chấp hành xong hình phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 674/GCN ngày 15/7/2008 của

Trại giam Đ1, đã chấp hành phần án phí HSST 50.000 đồng vào ngày 22/8/2012 theo Biên lai thu tiền nộp NSNN số 0009809 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, đã được xóa án tích; ngày 02/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 14 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 200.000 đồng án phí HSST theo Bản án số 34/2011/HSST. Bị cáo đi chấp hành án tại Trại giam Đ1 đến ngày 10/8/2012 chấp hành xong hình phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 490/GCN-CHXHPT ngày 10/8/2012, đã chấp hành phần án phí HSST 200.000 đồng vào ngày 08/12/2011 theo Biên lai thu tiền nộp NSNN số 0014882 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai, đã được xóa án tích; bị bắt tạm giữ ngày 13/01/2024 đến ngày 22/01/2024, bị tạm giam ngày 22/01/2024 cho đến nay; số căn cước công dân [...] do Cục C2 –Bộ C3 cấp, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ ngày 13/01/2024, tại địa phận làng Q, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai, Công an huyện C phát hiện Trịnh Văn S có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện Trịnh Văn S đang có hành vi cất giấu 01 (một) gói nilon được hàn kín bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng nghi ma túy. Sức khai nhận là ma túy đá (Methamphetamine). Sức mua về, cất giấu để sử dụng cho bản thân. Công an huyện C đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trịnh Văn S về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Ngày 15/01/2024, C qiam CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định số 21/QĐ trưng cầu Phòng K Công an tỉnh G giám định chất nghi ma túy thu được trong quá trình bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 140/KL-KTHS, ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh G kết luận: Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon được niêm phong trong bì thư công văn (mô tả tại mục giám định) là ma túy, loại Methamphetamin, khối lượng 0,5044 gam.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 04/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Trịnh Văn S (tên gọi khác: Sức B1) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù; đồng thời buộc bị cáo phải chịu án phí và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật; bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, đề nghị miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo S tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 18 giờ, tối ngày 12/01/2024, Sức bắt xe ôm đi đến địa phận thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai gặp một người tên là “T1” (hiện chưa rõ nhân thân lai lịch) để mua ma túy đá với số tiền là 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S tiếp tục bắt xe ôm về địa phận xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai để cất dấu số ma túy trên. Sáng ngày 13/01/2024, S đến khu vực rẫy tại xã B sử dụng một phần ma túy đá đã mua. Số còn lại Sức tiếp tục cất dấu trong người để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 16 giờ ngày 13/01/2024 khi Trịnh Văn S đang tìm chỗ để tiếp tục sử dụng ma túy thì bị cơ quan Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang. Số ma túy trên là loại Methamphetamin, khối lượng 0,5044 gam.

Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam;

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, nhằm mục đích thỏa mãn cơn nghiện cho cá nhân.

Xét thấy tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc mới có tác dụng riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo.

[3]Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4]Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ cần xem xét khi lượng hình cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 và được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5]Về tiền sự: Như đã trình bày ở trên bị cáo có 01 tiền sự.

[6]Về nhân thân, như trình bày ở trên bị cáo đã được xoá án tích của Bản án số 73/2007/HSST ngày 15/8/2007 Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai và Bản án số 34/2011/HSST ngày 02/11/2011 Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Như vậy, bị cáo có nhân thân xấu.

[7]Hội đồng xét xử xét thấy, quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, cần xem xét.

[8]Từ những nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo mức tù tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[9] - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trịnh Văn S đã phạm vào khoản 1, điều 23, Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Thủ tướng chính phủ Quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình. Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Trịnh Văn S bằng hình thức phạt tiền với số tiền là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Ngày 13/3/2024, bị cáo đã nộp phạt xong, là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập.

- Đối với đối tượng tên “T1” là người đã cung cấp ma túy cho Trịnh Văn S vào ngày 12/01/2024 hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch và địa chỉ cụ thể, do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện C sẽ tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập.

[10] Về vật chứng, xét:

  • - 01 (một) bì công văn của Phòng K Công an tỉnh G có đặc điểm : mặt trước có dòng chữ “Số 140/PC09 ngày 19 tháng 01 năm 2024”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông : Nguyễn Phấn B2, Bùi Sĩ T2 và ông Hoàng Ngọc B3 bên trong chứa 0,4782 gam chất màu trắng dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong 01 (một) gói nilon cùng vỏ bao gói.
  • - 01 bộ dụng cụ gồm: 01 lọ thủy tinh có nắp nhựa màu xanh được đục hai lỗ gắn 01 ống nhựa và 01 ống thủy tinh uốn cong.

(Quy cách, số lượng vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/4/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Sê).

Đây là những vật chứng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[11]Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án để sung công quỹ Nhà nước.

[12]Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp.

[13]Về kiến nghị: Không.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/Tuyên bố:

Bị cáo Trịnh Văn S (tên gọi khác Sức B1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

-Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt : Bị cáo Trịnh Văn S (tên gọi khác Sức Bé) 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 13/01/2024.

2/Về vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy gồm:

  • - 01 (một) bì công văn của Phòng K Công an tỉnh G có đặc điểm : mặt trước có dòng chữ “Số 140/PC09 ngày 19 tháng 01 năm 2024”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông : Nguyễn Phấn B2, Bùi Sĩ T2 và ông Hoàng Ngọc B3 bên trong chứa 0,4782 gam chất màu trắng dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong 01 (một) gói nilon cùng vỏ bao gói.
  • - 01 bộ dụng cụ gồm: 01 lọ thủy tinh có nắp nhựa màu xanh được đục hai lỗ gắn 01 ống nhựa và 01 ống thủy tinh uốn cong.

(Quy cách, số lượng vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/4/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Sê).

3/Về án phí:

-Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

4/Về kiến nghị: Không.

5/Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay (ngày 07/6/2024), báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TA tỉnh,
  • - VKSND Chư Sê,
  • - CA huyện Chư Sê,
  • - Bị cáo,
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Đình Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HSST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 22/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger