|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ Tỉnh Bến Tre Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày: 07-05-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Duyên
- Bà Phan Thị Cẩm Hồng
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đức Sang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân Thịnh – Kiểm sát viên.
Bà Lê Thị Cẩm T – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/HSST, ngày 11 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Thị Tuyết H, sinh năm 1975 tại thành phố T, tỉnh Long An; Nơi thường trú: Số D, ấp A, xã H, thành phố T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Lớp 08/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn L, sinh năm: 1956 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1957 (còn sống); Họ tên chồng: Lê Văn H1, sinh năm: 1974; Bị cáo có 02 người con sinh năm 1999 và năm 2010; Tiền án: Có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 02/2013/HSST ngày 24/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An; Bản án số 93/2017/HSST ngày 06/12/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; Bản án số 06/2019/HSST ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 24 tháng 01 năm 2013, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 02/2013/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2013, chấp hành xong hình phạt vào ngày 30 tháng 10 năm 2016; Ngày 06 tháng 12 năm 2017, bị Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 93/2017/HSST ngày 06 tháng 12 năm 2017, chấp hành xong hình phạt vào ngày 22 tháng 7 năm 2018; Ngày 26 tháng 02 năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 06/2019/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2019, chấp hành xong hình phạt vào ngày 31 tháng 10 năm 2020, chưa chấp hành án phí, bồi thường dân sự, chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/11/2023 đến nay.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại tòa.
- Bị hại: Lê Thị Cẩm H2, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Số nhà G, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Trần Chi L2, sinh năm: 1984; Nơi cư trú: Số nhà C, ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh Bến Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ, ngày 11/7/2023, Lê Thị Tuyết Hồng điều khiển xe mô tô biển số 62H7-9581, từ nhà ở thành phố T, tỉnh Long An đến huyện T, tỉnh Bến Tre để mua trái cây về bán. Khoảng 14 giờ, cùng ngày Hồng điều khiển xe đi ngang nhà cặp Quốc lộ E của bà Lê Thị Cẩm H2, sinh năm 1964, ở số nhà G ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre, quan sát thấy nhà mở cửa và không có người nên Lê Thị Tuyết H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lê Thị Tuyết H dựng xe trước cửa nhà rồi đi bộ vào trong nhà và phát hiện một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51 màu xanh đang được để trên giá đỡ điện thoại đặt trên bàn. Lê Thị Tuyết H lấy điện thoại bỏ vào túi áo khoác rồi ra xe để tẩu thoát. Khi ra đến cửa chính thì bị hại Lê Thị Cẩm H2 phát hiện. Sau khi bị phát hiện, Lê Thị Tuyết H nhanh chóng đi ra vị trí để xe và điều khiển xe về hướng huyện M, tỉnh Bến Tre. Qua kiểm tra phát hiện bị mất trộm điện thoại nên Lê Thị Cẩm H2 tri hô và nhờ ông Trần Chi L2 điều khiển xe mô tô chở đuổi theo Lê Thị Tuyết H. Khi đến khu vực ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre thì đuổi kịp Lê Thị Tuyết H. Lúc này, Lê Thị Tuyết H dừng xe tháo ốp lưng điện thoại thì nghe có tiếng truy hô, Lê Thị Tuyết H bỏ ốp lưng vào túi áo khoác, cầm điện thoại điều khiển xe bỏ chạy. Trên đường bỏ chạy thì Lê Thị Tuyết H vứt chiếc điện thoại vừa trộm được xuống lề cỏ ven đường và bị bắt.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, màn hình đã bị bể, điện thoại có 02 sim gồm: 0977779896 và 0334390775. tình trạng không còn sử dụng được.
- - 01 (một) ốp lưng điện thoại di động màu xanh lá, phía sau có dòng chữ SEEING&WATCHING, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) xe mô tô biển số 62H7-9581, nhãn hiệu Wanda, số máy VVNZS152FMH034948, số khung VDCDCH023UM027667.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38 ngày 26/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân huyện T kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy model SM A515F/DSN, màu xanh, số Imei: 352353112652604, kèm 01 thẻ nhớ 16Gb. Giá trị thực tế còn lại 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng); 02 (hai) sim điện thoại: 0977.779.xxx và 0334390775, có giá trị 140.000 đồng/ hai sim; 01 (một) ốp lưng điện thoại di động màu xanh, đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 0 đồng. Tổng giá trị tài sản là 2.640.000 đồng (hai triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).
Ngày 29/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành trao trả tài sản cho người bị hại là bà Lê Thị Cẩm H2: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy model SM A515F/DSN, màu xanh, số Imei: 352353112652604, kèm 01 thẻ nhớ 16Gb, 02 (hai) sim điện thoại: 0977.779.xxx và 0334390775, 01 (một) ốp lưng điện thoại di động màu xanh, đã qua sử dụng. Lê Thị Cẩm H2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Lê Thị Tuyết H bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số: 16/CT-VKSTP-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đã truy tố Lê Thị Tuyết H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có quan điểm không khác Cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thị Tuyết H từ 02 (hai) năm đến 03 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- - Về áp dụng hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thị Cẩm H2 đã nhận lại tài sản là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy model SM A515F/DSN, màu xanh, số Imei: 352353112652604, kèm 01 thẻ nhớ 16Gb, 02 (hai) sim điện thoại: 0977.779.xxx và 0334390775, 01 (một) ốp lưng điện thoại di động màu xanh, đã qua sử dụng. Bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, nên không đề nghị xem xét, giải quyết.
- - Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 62H7-9581, nhãn hiệu Wanda, số máy VVNZS152FMH034948, số khung VDCDCH023UM027667.
Vật chứng được tạm gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKSTP-HS ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú.
Đối với vật chứng là: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, màn hình đã bị bể, điện thoại có 02 sim gồm: 0977779896 và 0334390775. tình trạng không còn sử dụng được; 01 (một) ốp lưng điện thoại di động màu xanh lá, phía sau có dòng chữ SEEING&WATCHING, đã qua sử dụng đã xử lý xong trong giai đoạn điều tra nên không đề nghị xem xét.
Bị cáo Lê Thị Tuyết H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện giống như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.
Bị cáo Lê Thị Tuyết H nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Tuyết H thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo; lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Mặc dù đang có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi cá nhân và thái độ xem thường pháp luật, nên vào khoảng 14 giờ ngày 11/7/2023, tại nhà bà Lê Thị Cẩm H2 ở ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre, Lê Thị Tuyết H đã lợi dụng nhà không có người trông coi và không khóa cửa, Lê Thị Tuyết H đã lén lút vào nhà lấy trộm một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy model SM A515F/DSN, màu xanh, số Imei: 352353112652604, kèm 01 thẻ nhớ 16Gb, 02 (hai) sim điện thoại: 0977.779.xxx và 0334390775, 01 (một) ốp lưng điện thoại di động màu xanh, đã qua sử dụng. Tổng giá trị tài sản bị cáo Lê Thị Tuyết H đã chiếm đoạt là 2.640.000 đồng (hai triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), nên bản Cáo trạng số: 16/CT-VKSTP-HS, ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú truy tố bị cáo Lê Thị Tuyết H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo Lê Thị Tuyết H là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, điều đó đã làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội và thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải gánh chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thị Tuyết H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đây là tình tiết được xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Lê Thị Tuyết H là người có nhân thân xấu, đang có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nhưng bị cáo vẫn không chịu cải sửa mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa chung cho cộng đồng.
[7] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Do bị cáo Lê Thị Tuyết H không có thu nhập, nghề nghiệp ổn định và tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, nên không xem xét giải quyết.
[9] Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 62H7-9581, nhãn hiệu Wanda, số máy VVNZS152FMH034948, số khung VDCDCH023UM027667.
Vật chứng được tạm gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKSTP-HS ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú.
Đối với vật chứng là: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, màn hình đã bị bể, điện thoại có 02 sim gồm: 0977779896 và 0334390775. tình trạng không còn sử dụng được; 01 (một) ốp lưng điện thoại di động màu xanh lá, phía sau có dòng chữ SEEING&WATCHING, đã qua sử dụng đã xử lý xong trong giai đoạn điều tra nên không xem xét, giải quyết.
[10] Ý kiến của Kiểm sát viên phân tích hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo, hậu quả, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp với tính khách quan của vụ án, đúng với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Lê Thị Tuyết H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Tuyết H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Tuyết H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thị Cẩm H2 đã nhận lại tài sản bị mất, không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, nên không xem xét, giải quyết.
3. Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 62H7-9581, nhãn hiệu Wanda, số máy VVNZS152FMH034948, số khung VDCDCH023UM027667.
Vật chứng được tạm gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKSTP-HS ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Thị Tuyết H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên toà thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ khi nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thủy Tiên |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Tuyết H phạm tội trộm cắp tài sản
