TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐP TỈNH BP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07-5-2024
Về việc: "Ly hôn".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐP- TỈNH BP
TH phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: - Ông Huỳnh Tòa
- + Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Viết Xứng
- - Bà Hoàng Thị Minh
- + Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Văn Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ĐP, tỉnh BP.
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP, tỉnh BP tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hường- Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện ĐP, tỉnh BP xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Chắng Thị Kim L, sinh năm 1980 (xin vắng mặt).
- - Bị đơn: Ông Đào Nguyên Lâm TH, sinh năm 1981 (xin vắng mặt).
Cùng trú tại: Tổ 21, Ấp Minh Tân, xã TT, huyện ĐP, tỉnh BP.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 01 năm 20243, quá trình làm việc, nguyên đơn bà Chắng Thị Kim L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông TH tự nguyện tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT vào năm 2005. Quá trình chung sống thì thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó không còn hạnh phúc mà thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn là do ông TH không lo làm ăn, ăn chơi, cờ bạc gây ra nợ nần dẫn đến vợ chồng cãi vả nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay không ai còn quan tâm chăm sóc đến ai cả, mạnh ai người đó sống. Nay bà L xác định tình cảm mà bà L dành cho ông TH đã thực sự hết, nếu cứ kéo dài cuộc hôn nhân giữa hai người thì cũng không còn mang lại hạnh phúc cho nhau. Vì vậy, bà L yêu cầu Toà án giải quyết cho bà L được ly hôn với ông TH.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng bà L và ông TH có 02 người con chung tên là Đào Mai Hoàng Yến, sinh ngày 21/7/2006 và Đào Nguyên Lâm Toàn, sinh ngày 12/12/2016, khi ly hôn bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung các bên đã tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, không có yêu cầu nào khác. Do bận việc, đi làm ăn không có thời gian đi lại nên bà L có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.
- Bị đơn ông Đào Nguyên Lâm TH trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông TH và bà L tự nguyện tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT vào năm 2005. Quá trình chung sống thì giữa vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, do đó cả hai đã sống ly thân với nhau từ năm 2023 cho đến nay. Nay bà L yêu cầu ly hôn thì ông TH đồng ý thuận tình ly hôn với bà L.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung tên là Đào Mai Hoàng Yến, sinh ngày 21/7/2006 và Đào Nguyên Lâm Toàn, sinh ngày 12/12/2016, khi ly hôn ông TH đồng ý giao 02 con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung ông TH và bà L tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông TH trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận việc nên ông TH có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt.
* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định.
- Về quan điểm quyết vụ án: Nguyên đơn bà L và bị đơn ông TH có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay bà L có đơn yêu cầu ly hôn, quá trình thu thập chứng cứ nhận thấy vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên không thể hòa giải đoàn tụ được, ông TH cũng đồng ý ly hôn, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.
- + Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung tên là Đào Mai Hoàng Yến, sinh ngày 21/7/2006 và Đào Nguyên Lâm Toàn, sinh ngày 12/12/2016, khi ly hôn bà L yêu cầu được trực tiếp trực tiếp nuôi dưỡng con chung và ông TH cũng đồng ý giao 02 con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, quá trình thu thập chứng cứ các con chung đều trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với mẹ, do đó đề nghị giao cháu Yến và cháu Toàn cho bà L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng.
- + Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung, nợ chung: Các bên không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về quan hệ pháp luật: Bà Chắng Thị Kim L yêu cầu được ly hôn với ông Đào Nguyên Lâm TH, đây là vụ án "Ly hôn" được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Đào Nguyên Lâm TH hiện cư trú tại: Tổ 21, Ấp Minh Tân, xã TT, huyện ĐP, tỉnh BP. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1, khoản 3 Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện ĐP, tỉnh BP.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà L và bị đơn ông TH đều có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng các đương sự là đúng quy định.
Về yêu cầu của đương sự: Quá trình làm việc bà L yêu cầu được ly hôn với ông TH và giải quyết nuôi con chung.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông TH kết hôn với nhau một cách tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT vào năm 2005. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ về điều kiện và thủ tục kết hôn được quy của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Quá trình chung sống thì giữa bà L và ông TH sống không hạnh phúc mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, dẫn đến vợ chồng thường hay cãi vã, làm cho mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng gay gắt, cả hai đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay không ai còn quan tâm chăm sóc đến ai cả, mạnh ai người đó sống. Quá trình làm việc Tòa án cũng tạo điều kiện thời gian để hai vợ chồng hòa giải đoàn tụ để cùng nhau bỏ qua mâu thuẫn nhằm xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc nhưng mâu thuẫn vẫn xảy ra, hiện nay bà L không còn tình cảm gì với ông TH và cả hai đã ly thân, ông TH cũng đồng ý ly hôn với bà L. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa bà L và ông TH lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà L yêu cầu được ly hôn với ông TH là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung tên là Đào Mai Hoàng Yến, sinh ngày 21/7/2006 và Đào Nguyên Lâm Toàn, sinh ngày 12/12/2016, khi ly hôn bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và ông TH cũng đồng ý giao 02 con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, quá trình thu thập chứng cứ các con chung đều trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với mẹ, do đó cần giao cháu Yến và cháu Toàn cho bà L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu và đúng quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 8, 9, 51, 56, 81, 82 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chắng Thị Kim L.
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Chắng Thị Kim L được ly hôn với bị đơn ông Đào Nguyên Lâm TH.
- Về con chung: Giao con chung Đào Mai Hoàng Yến, sinh ngày 21/7/2006 và Đào Nguyên Lâm Toàn, sinh ngày 12/12/2016 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông TH có quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không.
- Về án phí hôn nhân & gia đình sơ thẩm: Bà Chắng Thị Kim L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010107 ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐP, tỉnh BP.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Tòa |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐP, TỈNH BP về ly hôn
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐP, TỈNH BP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Liễu ly hôn với ông Thành
