Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH HÓA

TỈNH THÁI NGUYÊN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 22/2024/HSST

Ngày 06-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiểm.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tâm và ông Hoàng Đức Thuỷ.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 06/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST- HS ngày 23/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST- HS ngày 23/5/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Minh N, sinh năm 1981, tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 4/12; quốc tịch:Việt Nam; dân tộc: Sán Chỉ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lý Văn T và bà Trịnh Thị H; vợ: Triệu Thị B; có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012; tiền sự: Không.

Tiền án: Có 01 tiền án. Tại Bản án số: 51/2020/HSST ngày 03/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo Lý Minh N 32 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/9/2022, chưa chấp hành khoản tiền án phí và tiền phạt.

Nhân thân: Quyết định số 1901 ngày 18/8/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc đưa Lý Minh N đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh T. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định.

Tại bản án số 61/2015/HSST ngày 27/11/2015 của Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên xủ phạt bị cáo Lý Minh N 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : Anh Lường Văn P, sinh năm 1968; Trú tại: Xóm K, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

* Người chứng kiến: Chị Lộc Thị N1, sinh năm: 1975. Trú tại: Xóm H, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 16/01/2024, tại khu vực dốc T thuộc xóm H, xã T, huyện Đ. Công an xã T, huyện Đ tiến hành kiểm tra hành chính đối với Lường Văn P, sinh năm:1968, trú tại: xóm K, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và Lý Minh N, sinh năm: 1981, trú tại: xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Khi kiểm tra hành chính, Lường Văn P tự giác giao nộp 01(một) gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng P khai là là ma túy, loại Heroine. Lý Minh N tự giác giao 01(một) gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng N khai là ma tuý, loại Heroine. Công an xã T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng tạm giữ của P số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1, 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, 01 (một) xe mô tô mang BKS: 20N1-0044; niêm phong vật chứng tạm giữ của N số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A2, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, 01 (một) xe mô tô mang BKS: 20AB-01587và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Kết quả mở niêm phong và cân số chất bột màu trắng thu giữ của N và P như sau:

  • - Số chất bột màu trắng thu giữ của Lường Văn P có khối lượng là 0,058 gam. Lấy toàn bộ niêm phong trong bì ký hiệu A3 gửi giám định.
  • - Số chất bột màu trắng thu giữ của Lý Minh N có khối lượng là 0,018 gam. Lấy toàn bộ niêm phong trong bì ký hiệu A4 gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 247/KL-KTHS ngày 24/1/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: “Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A3 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Heroin); có khối lượng là 0,058 gam. Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A4 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Heroin); có khối lượng là 0,018 gam”.

Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ Lý Minh N và Lường Văn P khai như sau: Bản thân N và P là người nghiện chất ma túy. Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 16/01/2024, N gọi điện rủ P đi mua ma túy để sử dụng, P đồng ý hẹn gặp nhau tại dốc Thẩm Làn thuộc xóm H, xã T, huyện Đ, P đi xe mô tô mang BKS: 20N1-0044 (xe mô tô Pau mượn của vợ là chị Lý Thị N2). N đi xe mô tô mang BKS: 20AB-01587 (xe mô tô Ngoan mượn của anh Trịnh Văn Đ), cả hai gặp nhau tại dốc Thẩm Làn thuộc xóm H, xã T, huyện Đ. N đưa P 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) bảo P đi mua túy về cùng nhau sử dụng. P cầm tiền và đi xe mô tô đến khu vực gần cầu T thuộc xóm T, xã T, huyện Đ gặp người đàn ông cụt hai tay tên H1, P đưa 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) cho H1, sau đó H1 đưa lại cho P 01 gói ma túy được gói bằng giấy bạc màu vàng, P cầm 01 gói ma túy trên để ở túi áo phao bên trong trước ngực và đi về khu vực dốc Thẩm Làn thuộc xóm H, xã T gặp N. Pau và N để xe mô tô cạnh đường và đi lên khu vực mỏm đá cạnh đường để sử dụng ma túy. Khi đến khu vực mỏm đá, P chia cho N một phần trong gói ma túy để sử dụng phần còn lại để P sử dụng. Khi N và P đang chuẩn bị sử dụng thì bị Công an xã T kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Vật chứng của vụ án gồm: 01(một) bì niêm phong ký hiệu là A3 bên trong có 0,044 (không phẩy không bốn bốn) gam ma túy và vỏ bao gói mẫu giám định là mẫu vật còn lại sau giám định thu giữ của Lường Văn P; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A5 bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng thu giữ của Lường Văn P; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đỏ đen, đã qua sử dụng có số IMEI1: 358044840601146 thu giữ của Lường Văn P; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A4 bên trong có 0,008 (không phẩy không không tám) gam ma túy và vỏ bao gói mẫu giám định là mẫu vật còn lại sau giám định thu giữ của Lý Minh N; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A6 bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 01 (một) mảnh giấy bạc màu trắng thu giữ của Lý Minh N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đen, đã qua sử dụng có số IMEI1: 355634044110788 thu giữ của Lý Minh N.

01(một) xe mô tô mang BKS: 20N1- 0044 thu giữ của Lường Văn P, qua trình điều tra xác định chị Lý Thị N2, sinh năm: 1968, trú tại: xóm K, xã T, huyện Đ là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô trên và không biết việc P dùng xe mô tô để đi mua ma túy về sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị N2; 01 (một) xe mô tô mang BKS: 20AB-01587 thu giữ của Lý Minh N, qúa trình điều tra xác định anh Trịnh Văn Đ, sinh năm: 1986, trú tại: xóm K, xã T, huyện Đ là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô trên và không biết việc N dùng xe để đi mua ma túy về sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Đ.

Quá trình điều tra xác định Lý Minh N có 01 tiền án về tội” Mua bán trái phép chất ma tuý”, Lường Văn P là người được N đưa tiền để đi mua ma túy về cùng N sử dụng.Tuy nhiên, khối lượng ma túy dưới 0,1gam, nhân thân Pau chưa có tiền án, tiền sự về tội phạm ma túy, hành vi không cấu thành tội phạm. Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P.

Bản Cáo trạng số 20/CT - VKSĐH, ngày 22/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo ra trước Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên để xét xử bị cáo Lý Minh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý “ theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xác định việc truy tố tại bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa đối với bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai. Bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lý Minh N về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử :

Tuyên bố: Bị cáo Lý Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Lý Minh N từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 16/01/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A3 bên trong có 0,044 (không phẩy không bốn bốn) gam ma túy và vỏ bao gói mẫu giám định là mẫu vật còn lại sau giám định thu giữ của Lường Văn P; 01(một) bì niêm phong ký hiệu là A5 bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng thu giữ của Lường Văn P; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A4 bên trong có 0,008 (không phẩy không không tám) gam ma túy và vỏ bao gói mẫu giám định là mẫu vật còn lại sau giám định thu giữ của Lý Minh N; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A6 bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 01 (một) mảnh giấy bạc màu trắng thu giữ của Lý Minh N;

Trả: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đỏ đen, đã qua sử dụng có số IMEI1: 358044840601146 cho Lường Văn P

Tịch thu, sung quỹ nhà nước:01(một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đen, đã qua sử dụng có số IMEI1: 355634044110788 của Lý Minh N.

- Về án phí: Áp dụng các điều 135,136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lý Minh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo đối với bản án.

Phần tranh luận: Bị cáo N không tranh luận, bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Lý Minh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai, các bản tự khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan Điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định:

Lý Minh N có 01tiền án.Tại Bản án số: 51/2020/HSSTngày 03/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo Lý Minh N 32 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật hình sự, Bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/9/2022, chưa chấp hành khoản tiền án phí và tiền phạt, chưa được xoá án tích.

Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 16/01/2024, Lý Minh N đưa cho Lường Văn P 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) để P đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, P mua được 0,076 gam ma túy, loại Heroine. Sau khi mua được ma tuý Pau quay lại chỗ N chờ tại khu vực núi đá dốc Thẩm Làn thuộc xóm H, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, P và N để xe mô tô cạnh đường và đi lên khu vực mỏm đá cạnh đường để sử dụng ma túy. Khi đến khu vực mỏm đá, P chia cho N một phần trong gói ma túy để sử dụng phần còn lại để P sử dụng. Khi N và P đang chuẩn bị sử dụng thì bị Công an xã T kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo Lý Minh N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

“1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248.250,251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Lý Minh N về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Đánh giá về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:

  • - Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự; xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo cố ý thực hiện.
  • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo là người nghiện ma tuý. Ngày 18/8/2010 bị cáo đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ Quyết định số 1901 về việc đưa bị cáo đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - LĐXH tỉnh T. Ngày 27/11/2015 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên xủ phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 03/6/2020 bị cáo tiếp tục bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 32 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/9/2022, chưa chấp hành khoản tiền án phí và tiền phạt của bản án này). Với các mức án nghiêm khắc như vậy nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội. Ngược lại, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương bị cáo tiếp tục sử dụng và tái nghiện ma tuý, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.
  • - Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự đối với bị cáo, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để tập trung cải tạo mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản gì. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A3 bên trong có 0,044 (không phẩy không bốn bốn) gam ma túy và vỏ bao gói mẫu giám định là mẫu vật còn lại sau giám định thu giữ của Lường Văn P; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A5 bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng thu giữ của Lường Văn P; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A4 bên trong có 0,008 (không phẩy không không tám) gam ma túy và vỏ bao gói mẫu giám định là mẫu vật còn lại sau giám định thu giữ của Lý Minh N; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A6 bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 01 (một) mảnh giấy bạc màu trắng thu giữ của Lý Minh N cần tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ.
  • - 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đen, đã qua sử dụng có số IMEI1: 355634044110788 thu giữ của Lý Minh N, N sử dụng làm phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đỏ đen, đã qua sử dụng có số IMEI1: 358044840601146 thu giữ của Lường Văn P, hành vi của P không cấu thành tội phạm, cần trả lại cho P.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Đối với Lường Văn P là người được N đưa tiền để đi mua ma túy về cùng N sử dụng. Tuy nhiên, khối lượng ma túydưới 0,1gam nhân thân Pau chưa có tiền án, tiền sự về tội phạm ma túy, hành vi không cấu thành tội phạm. Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P.

Về nguồn gốc số ma tuý Lường Văn P khai đã mua ma túy của Hành tại khu vực xã T. Quá trình điều tra Vũ Văn H2 không thừa nhận đã bán ma túy cho P, ngoài lời khai của P không có tài liệu chứng cứ khác để chứng minh việc H2 bán ma túy cho P nên không có căn cứ để xử lý đối với H2.

[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về múc hình phạt, về xử lý vật chứng và về án phí đối với bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lý Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Lý Minh N 15 (mười lăm) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 16/01/2024.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A3 bên trong có 0,044 (không phẩy không bốn bốn) gam ma túy và vỏ bao gói mẫu giám định là mẫu vật còn lại sau giám định thu giữ của Lường Văn P; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A5 bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng thu giữ của Lường Văn P; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A4 bên trong có 0,008 (không phẩy không không tám) gam ma túy và vỏ bao gói mẫu giám định là mẫu vật còn lại sau giám định thu giữ của Lý Minh N; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A6 bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 01 (một) mảnh giấy bạc màu trắng thu giữ của Lý Minh N.

- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đen, đã qua sử dụng có số IMEI1: 355634044110788 của Lý Minh N.

- Trả 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đỏ đen, đã qua sử dụng có số IMEI1: 358044840601146 cho Lường Văn P.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Hóa ngày 23/4/2024).

- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 135,136, 331,333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lý Minh N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo; báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Định Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Định Hóa (2 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Định Hóa;
  • - Bị cáo; THA hình sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Kiểm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HSST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 22/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý Minh Ngoan Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger