|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày 05 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Phước Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Châu.
Bà Phạm Thị Bích Ly.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Thanh Quốc - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Tôn, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Lê Hậu G, sinh ngày 19/9/1998, tại huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1964; A, chị, em ruột: 03 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất là bị cáo; Vợ tên Ngô Ngọc H, con: có 01 người, sinh năm 2020.
- Tiền án: Không có:
- Tiền sự: 01 tiền sự, Ngày 20/12/2021, bị cáo Lê Hậu G bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền là 1.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 02/QĐ-XPHC ngày 20/12/2021 của Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang, chưa chấp hành xong.
Bị khởi tố ngày 04 tháng 3 năm 2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 04 tháng 3 năm 2024 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Lê Văn L, sinh ngày 08/8/1999, tại huyện C, tỉnh Hậu Giang. Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N, sinh năm 1975 và bà Lê Thị Mỹ D, sinh năm 1976; Anh, chị, em ruột: 02 người, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất là bị cáo; Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án: Không có:
- Tiền sự: 01 tiền sự, Ngày 20/12/2021, bị cáo Lê Văn L bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền là 1.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 20/12/2021 của Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang, chưa chấp hành xong.
Bị khởi tố ngày 04 tháng 3 năm 2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 04 tháng 3 năm 2024 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
- Ông Nguyễn Tấn Đ1, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp M, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. - Ông Văn Phước L1, sinh năm 1965 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp M, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. - Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1964 (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị S, sinh năm 1998 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Thành Đ2, sinh năm 1996 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. - Anh Nguyễn Dũ T, sinh năm 2005 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. - Anh Nguyễn Hoàng Â, sinh năm 2006 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 08/01/2024, bị cáo Lê Hậu G rủ bị cáo Lê Văn L đi trộm gà thì bị cáo L đồng ý. Sau khi bàn bạc với nhau, bị cáo Lê Văn L điều khiển xe mô tô biển số 95H1-364.21 chở bị cáo Lê Hậu G đi từ nhà bị cáo G hướng về huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Khi đến địa bàn huyện M, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Lê Hậu G và bị cáo Lê Văn L đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất:
Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 08/01/2024, bị cáo Lê Văn L và bị cáo Lê Hậu G đi đến khu vực đất của ông Trần Văn V thuộc ấp M, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, lúc này bị cáo L và bị cáo G để xe ở mé lộ sát đám tràm, sau đó đi bộ theo đường mòn trên bờ kênh đến tường rào nhà ông Nguyễn Tấn Đ1, cư trú tại ấp M, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo G đứng ở ngoài còn bị cáo L trèo qua tường rào và vào trong chuồng gà của ông Đ1 bắt 03 (ba) con gà trống chuyền ra ngoài cho bị cáo G bỏ vào giỏ.
Lần thứ hai:
Khoảng 10 phút, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhà của ông Nguyễn Tấn Đ1 thì bị cáo G và bị cáo L tiếp tục đi bộ đến tường rào nhà ông Văn Phước L1 cư trú tại ấp M, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, lúc này bị cáo G đứng ở ngoài còn bị cáo L trèo qua tường rào và vào trong chuồng gà của ông L1 bắt 02 (hai) con gà trong đó có 01 con gà trống và 01 con gà mái đưa cho bị cáo G bỏ vào bao, sau đó bị cáo G và bị cáo L đem gà ra xe và tiếp tục chạy xe về hướng xã M.
Lần thứ ba:
Vào khoảng 01 giờ ngày 09/01/2024, bị cáo L điều khiển xe chở bị cáo G đi đến khu vực ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thì thấy cửa rào nhà của ông Nguyễn Văn N1, cư trú tại ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng không có khóa nên bị cáo G và bị cáo L đi vào chuồng gà của ông N1. Bị cáo G ở ngoài còn bị cáo L vào trong chuồng gà bắt 03 (ba) con gà, trong đó có 01 con gà trống và 02 con gà mái đưa cho bị cáo G bỏ vào bao, sau đó cả hai ra xe và chạy về nhà. Lúc này, anh Nguyễn Thành Đ2 là con của ông Đ1 đang trên đường đi tìm người trộm gà của mình thì thấy bị cáo L và bị cáo G chạy xe ngang, trên xe có chở theo 01 cái bao và 01 cái giỏ gà, thấy vậy anh Đ2 điều khiển xe chạy về nhà kêu anh Nguyễn Dũ T và anh Nguyễn Hoàng  đuổi theo bị cáo L và bị cáo G, khi đuổi đến cầu M thuộc ấp M, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thì anh Đ2, anh T, anh  điều khiển xe ép vào xe của bị cáo G và bị cáo L nên bị cáo L dừng xe lại, anh Đ2 mở bao kiểm tra thì phát hiện trong bao có 03 (ba) con gà trống của mình nên anh Đ2 cùng anh T, anh  chở bị cáo L và bị cáo G đến Công an Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng trình báo sự việc.
- Tại Kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTS ngày 23/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện M kết luận: 08 con gà thả vườn, trong đó 05 con gà trống và 03 con gà mái, tổng trọng lượng 19kg.
+ Giá khảo sát: 110.000 đồng/kg.
+ Thành tiền: 2.090.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản được định giá là 2.090.000 đồng (hai triệu không trăm chín mươi nghìn đồng).
- Tại Cáo trạng số: 19/CT-VKS-MT ngày 21 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Lê Hậu G và bị cáo Lê Văn L cùng về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa sơ thẩm:
Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo G và bị cáo L. Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên phân tích tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo G và bị cáo L, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Lê Hậu G từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù giam.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Lê Văn L từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) cái giỏ xách đệm và 01 (một) cái bao màu vàng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Hậu G phải chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, bị cáo Lê Văn L phải chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Bị cáo Lê Hậu G thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Trình bày tranh luận, bị cáo G thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không trình bày tự bào chữa. Lời nói sau cùng bị cáo G đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Lê Văn L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Trình bày tranh luận, bị cáo L thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không trình bày tự bào chữa. Lời nói sau cùng bị cáo L đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại ông Nguyễn Văn N1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Lê Hậu G và bị cáo Lê Văn L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại nên các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Tấn Đ1, ông Văn Phước L1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Lê Thị S, người làm chứng anh Nguyễn Thành Đ2, anh Nguyễn Dũ T và anh Nguyễn Hoàng  đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy, việc vắng mặt ông ông Đ1, ông L1, chị S, anh Đ2, anh T và anh  không gây cản trở cho việc xét xử, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra cũng đã tiến hành lấy lời khai của họ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị hại ông Nguyễn Tấn Đ1, ông Văn Phước L1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Lê Thị S, người làm chứng anh Nguyễn Thành Đ2, anh Nguyễn Dũ T và anh Nguyễn Hoàng Â.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hậu G và bị cáo Lê Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Xét thấy, lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận rằng: Trong khoảng thời gian từ 23 giờ 30 phút ngày 08/01/2024 đến 01 giờ ngày 09/01/2024, bị cáo Lê Hậu G và bị cáo Lê Văn L đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể:
Lần thứ nhất:
Trộm của ông Nguyễn Tấn Đ1 03 con gà trống.
Lần thứ hai:
Trộm của ông Văn Phước L1 02 con gà, trong đó có 01 con gà trống, 01 con gà mái.
Lần thứ ba:
Trộm của ông Nguyễn Văn N1 03 con gà, trong đó có 01 con gà trống, 02 con gà mái.
Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 2.090.000 đồng (hai triệu không trăm chín mươi nghìn đồng).
[4] Tại phiên tòa, bị cáo G và bị cáo L đều khai nhận bị cáo G là người khởi xướng, rủ rê và tham gia tích cực cùng với bị cáo L khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo G là người rủ rê bị cáo L đi trộm gà của người khác và trong các lần trộm cắp gà của các bị hại, bị cáo G là người đứng ở ngoài để nhận gà từ bị cáo L, sau đó bỏ gà vào trong bao và giỏ xách; bị cáo L giữ vai trò là người thực hành tích cực khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại, bị cáo Lụa là người điều khiển xe mô tô chở bị cáo G đi tìm gà để trộm, đồng thời bị cáo L cũng là người trực tiếp vào chuồng gà của các bị hại để bắt trộm gà chuyền ra cho bị cáo G bỏ vào trong giỏ xách và bao. Bị cáo G và bị cáo L giữ vai trò là đồng phạm thuộc trường hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Tại Kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTS ngày 23/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện M kết luận đối với 08 con gà, trong đó có 05 con gà trống, có 03 con gà mái, có tổng trọng lượng là 19kg, giá khảo sát là 110.000 đồng/kg, tổng giá trị tài sản được định giá là 2.090.000 đồng (hai triệu không trăm chín mươi nghìn đồng), cụ thể:
- Đối với bị hại ông Nguyễn Tấn Đ1: 01 con gà trống đá, gà khét bông, nặng 03kg; 01 con gà trống đá màu xám, nặng 02kg; 01 con gà trống đá màu đỏ đen, gà điều nặng 2,2 kg, giá khảo sát là 110.000 đồng/kg, thành tiền 792.000 đồng (bảy trăm chín mươi hai nghìn đồng);
- Đối với bị hại ông Văn Phước L1: 01 con gà trống đá màu đỏ đen, gà điều, nặng 03kg; 01 con gà mái màu xám bông, nặng 02kg, giá khảo sát là 110.000 đồng/kg, thành tiền 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng);
- Đối với bị hại ông Nguyễn Văn N1: 01 con gà trống, gà chuối nặng 3,5kg, 01 con gà mái bông xám nặng 1,7kg; 01 con gà mái xám nặng 1,6 kg, giá khảo sát là 110.000 đồng/kg, thành tiền 748.000 đồng (bảy trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
[6] Các bị cáo Lê Hậu G, Lê Văn L đều là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng các bị cáo lại có hành vi trộm cắp tài sản của người khác, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản người khác được pháp luật bảo vệ và còn gây ảnh hưởng xấu tình hình trật tự tại địa phương. Do đó, hành vi của các bị cáo Lê Hậu G, Lê Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 ca Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Như vậy, Cáo trạng số: 19/CT-VKS-MT ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Lê Hậu G và bị cáo Lê Văn L tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[8] Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chínhhành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
đ) Tài sản là di vật, cổ vật.
2. ...".
[9] Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Lê Hậu G và bị cáo Lê Văn L đều đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nhưng lại nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác (mỗi lần đều chưa đủ định lượng vì giá trị tài sản bị chiếm đoạt của ông Đ1 là 792.000 đồng, giá trị tài sản bị chiếm đoạt của ông L1 là 550.000 đồng, giá trị tài sản bị chiếm đoạt của ông N1 là 748.000 đồng) nên bị cáo Lê Hậu G và bị cáo Lê Văn L phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Lê Hậu G và bị cáo Lê Văn L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản các bị cáo trộm cắp đã được thu giữ kịp thời và giao trả lại cho các bị hại nên gây thiệt hại về tài sản không lớn; tại phiên tòa bị hại ông Nguyễn Văn N1 đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[10] Hành vi trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự ở địa phương. Để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và giữ gìn trật tự trị an tại địa phương thì cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành một công dân biết tôn trọng pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, nên áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mới tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy, xử phạt các bị cáo mức hình phạt khởi điểm của khung hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp, thể hiện nguyên tắc khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[11] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo Lê Hậu G và bị cáo Lê Văn L đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, hiện tại các bị cáo có thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[12] Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không đặt ra xem xét.
[13] Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) cái giỏ xách đệm và 01 (một) cái bao màu vàng.
[14] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Hậu G, bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
[15] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như đã nêu trong phần nội dung vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[16] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Hậu G;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Văn L;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Lê Hậu G và bị cáo Lê Văn L cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Lê Hậu G 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị bắt để chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị bắt để chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Lê Hậu G và Lê Văn L.
- Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không đặt ra xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái giỏ xách đệm và 01 (một) cái bao màu vàng (theo Quyết định chuyển vật chứng số: 14/QĐ-VKSMT ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Hậu G, bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đoàn Phước Đạt |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố bị cáo Lê Hậu Giang và bị cáo Lê Văn Lụa cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2. Xử phạt bị cáo Lê Hậu Giang 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị bắt để chấp hành án. Xử phạt bị cáo Lê Văn Lụa 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị bắt để chấp hành án.
