Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: /2024/HNGĐ-ST

Ngày 5/6/2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Mai và anh Mỹ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và Ông Nguyễn Quang Vinh
  • Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
  • Đại viện viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang.

Trong ngày 05/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2024/TLST-HNGĐ ngày 18/01/2024 về việc “tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 10/4/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 27/2024/TB-TA ngày 22/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2024/QÐST- HNGĐ ngày 13/5/2024 giữa:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết Mai, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn Ngoài, xã Mỹ Hà, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Anh Phạm Văn Mỹ, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn Cánh, xã Mỹ Hà, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và biên bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết Mai trình bày:

Chị kết hôn với anh Phạm Văn Mỹ ngày 15/3/2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hà, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn chị và anh Mỹ được tự do tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến tháng 11 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến vợ chồng không bảo ban được nhau, việc của ai người đó làm; vợ chồng không quan tâm chăm sóc nhau. Sau khi xảy ra mâu thuẫn chị và anh Mỹ đã sống ly thân từ cuối năm 2023 đến nay mỗi người một cuộc sống riêng, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm và kinh tế. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Mỹ.

- Về con chung: Chị và anh Mỹ có 01 con chung là Phạm Minh Nguyệt, sinh ngày 29/5/2022; hiện con chung đang ở với chị, phát triển bình thường. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp nuôi con và chị không yêu cầu anh Mỹ cấp dưỡng nuôi con. Chị đang làm ở khu công nghiệp Vân Trung thu nhập trung bình hàng tháng là 8.000.000 đồng và có một căn nhà riêng.

- Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Chị xác định vợ chồng không vướng mắc gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phạm Văn Mỹ trình bày: anh và chị Mai đăng ký kết hôn ngày 15/3/2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hà, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn chị và anh Mỹ được tự do tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện; sau khi kết hôn chị Mai về nhà anh chung sống ngay. Khi chung sống vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc, trong cuộc sống đôi khi cũng có mâu thuẫn nhỏ nhặt trong làm ăn kinh tế và nuôi dạy con nhưng là mâu thuẫn nhỏ nhặt, thỉnh thoảng cãi vã anh nóng tính có đánh chị một vài lần không đáng kể. Vợ chồng anh đã sống ly thân từ cuối năm 2023 đến nay, không quan tâm chăm sóc nhau nữa, chấm dứt mọi quan hệ về tình cảm và kinh tế. Nay chị Mai xin ly hôn anh không đồng ý vì thấy con còn nhỏ.

- Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung như chị Mai trình bày là đúng, con chung tên là Phạm Minh Nguyệt, sinh ngày 29/5/2022, hiện cháu đang ở với chị Mai, phát triển bình thường. Nay ly hôn, chị Mai yêu cầu được tiếp nuôi con và không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con, anh không nhất trí và anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu và không yêu cầu chị Mai cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện anh đang làm nhân viên cây xăng gần nhà thu nhập khoảng 7.000.000 đồng/tháng, ngoài ra anh còn làm thêm ở công ty thiết bị y tế ở Hà Nội thu nhập không ổn định.

Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Anh xác định vợ chồng không vướng mắc gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Mỹ đều vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Tuyết Mai vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Phạm Văn Mỹ vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do lần thứ hai. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Tuyết Mai được ly hôn anh Phạm Văn Mỹ.
  • Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Tuyết Mai trực tiếp nuôi con chung là cháu Phạm Minh Nguyệt, sinh ngày 29/5/2022. Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét.
  • Về án phí: Chị Mai phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
  • Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết Mai cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện Lạng Giang. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết Mai có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phạm Văn Mỹ vắng mặt lần thứ hai không lý do dù đã được triệu tập hợp lệ. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Mai và anh Mỹ theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết Mai và anh Phạm Văn Mỹ kết hôn ngày 15/3/2021 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hà, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Mai, anh Mỹ là hợp pháp. Cưới xong chị Mai về chung sống với anh Mỹ ngay, vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 11 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong phát triển kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2023, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau, việc của ai người đó làm, vợ chồng sống không có hạnh phúc. Điều đó chứng tỏ tình cảm giữa chị Mai và anh Mỹ không còn, mâu thuẫn căng thẳng kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần giải quyết cho chị Mai được ly hôn anh Mỹ, xét như vậy là phù hợp với Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Vợ chồng chị Mai, anh Mỹ có 01 con chung là Phạm Minh Nguyệt, sinh ngày 29/5/2022. Hiện cháu đang ở với chị Mai, phát triển bình thường. Nay ly hôn chị Mai và anh Mỹ đều có yêu cầu trực tiếp nuôi con là Phạm Minh Nguyệt. HĐXX xét thấy yêu cầu của các đương sự là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nhưng cháu Nguyệt hiện dưới 36 tháng tuổi, cháu đang ở cùng chị Mai phát triển bình thường do đó cần giao cho chị Mai được trực tiếp nuôi cháu Nguyệt là phù hợp với quy định của pháp luật. Do chị Mai không yêu cầu anh Mỹ cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết. Xét như vậy là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Sau khi ly hôn anh Mỹ có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh Mỹ thực hiện quyền này.

[5] Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác: Chị Mai, anh Mỹ không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Mai phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết Mai được ly hôn anh Phạm Văn Mỹ.
  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Tuyết Mai trực tiếp nuôi con chung là Phạm Minh Nguyệt, sinh ngày 29/5/2022. Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.

    Sau khi ly hôn anh Mỹ được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh Mỹ thực hiện quyền này.

  3. Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết Mai phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Mai đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007305 ngày 18/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Mai đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Án xử công khai sơ thẩm./.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số /2024/HNGĐ-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: /2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai - Mỹ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger