Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VẠN NINH

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 22/2024/DSST

Ngày 04 tháng 9 năm 2024

“V/v: Tranh chấp hợp

đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Quang Thành

Ông Phạm Tám

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Huynh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 65/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST - DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2024/QĐXXST - DS ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Bích H, sinh năm: 1978;
  • Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

  • Bị đơn:
    1. Bà Trần Thị Thanh P, sinh năm: 1969;
    2. Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

    3. Anh Trần Văn S, sinh năm 1993;
    4. Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 28/01/2024, biên bản lấy lời khai ngày 18/6/2024 các lời khai tiếp theo của nguyên đơn Huỳnh Thị Bích H trình bày:

Tôi với bà Trần Thị Thanh P và anh Trần Văn S có quen biết nhau ( Anh S là con trai của bà P). Ngày 14/11/2023 tôi cho bà P và anh S vay số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) để làm ăn. Việc vay mượn tiền này các bên có làm giấy mượn tiền có chữ ký của bên vay và bên cho vay. Để đảm bảo khoản vay trên bà P và anh S có thế chấp cho tôi bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 726904, số vào sổ cấp GCN: 06168 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 22/11/2023 cho bà Trần Thị Thanh P đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính xã Đ), vị trí Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Hiện nay bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do tôi đang giữ. Trong giấy mượn tiền các bên có thỏa thuận lãi suất dựa trên quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam tại thời điểm cho mượn. Thời hạn mượn là từ ngày 14/11/2023 đến ngày 14/01/2024. Đến thời hạn trả nợ, bà P và anh S không trả nợ gốc và lãi cho tôi theo đúng như thỏa thuận.

Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 25/6/2024 giữa tôi và bà Trần Thị Thanh P chúng tôi thống nhất thỏa thuận: Vào ngày 15/9/2024 bà Trần Thị Thanh P trả cho tôi một lần số tiền là 224.000.000 đồng, trong đó số tiền gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 14/6/2024 là 22.400.000 đồng. Tôi sẽ trả lại ngay cho bà Trần Thị Thanh P bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 726904, số vào sổ cấp GCN 06168 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 22/11/2023 cho bà Trần Thị Thanh P đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính xã Đ), vị trí Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.

Tại phiên tòa, tôi xin thay đổi ý kiến yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà Trần Thị Thanh P và anh Trần Văn S phải trả số tiền gốc là 200.000.000đồng và tiền lãi phát sinh với mức lãi suất là 1,6%/tháng, thời gian từ ngày 14/11/2023 đến ngày 14/8/2024. Yêu cầu bà P và anh S trả một lần, trong thời gian nhanh nhất. Tôi đồng ý trả lại cho bà Trần Thị Thanh P và anh Trần Văn S bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 726904, số vào sổ cấp GCN: 06168 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 22/11/2023 cho bà Trần Thị Thanh P đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính xã Đ), vị trí Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 25/6/2024 bị đơn bà Trần Thị Thanh P trình bày:

Tôi với bà Huỳnh Thị Bích H có quen biết nhau. Ngày 14/11/2023 tôi và con trai tôi là Trần Văn S có vay của bà Huỳnh Thị Bích H số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) để làm ăn. Việc vay tiền này các bên có làm giấy mượn tiền có chữ ký của bên vay và bên cho vay. Để đảm bảo khoản vay trên tôi và S có thế chấp cho bà Huỳnh Thị Bích H bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 726904, số vào sổ cấp GCN: 06168 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 22/11/2023 cho bà Trần Thị Thanh P đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính xã Đ), vị trí Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Trong giấy vay tiền các bên có thỏa thuận lãi suất dựa trên quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam tại thời điểm cho vay. Thời hạn vay là từ ngày 14/11/2023 đến ngày 14/01/2024, tuy nhiên giữa tôi và bà H có thỏa thuận riêng với nhau là khi nào tôi bán được đất (thửa đất mà tôi bà thế chấp cho bà Huỳnh Thị Bích H) thì sẽ trả hết nợ cho bà H. Đến cuối năm 2023 âm lịch giữa tôi và bà H xảy ra mâu thuẫn với nhau nên bà H yêu cầu tôi phải trả số tiền đã vay là 200.000.000 đồng. Tuy nhiên, thời điểm đó tôi và con trai tôi làm ăn khó khăn, không có khả năng trả nợ cho bà H như đã hẹn. Nay bà H yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc tôi và S phải trả số tiền gốc 200.000.000 đồng và lãi 1,6%/tháng tôi đồng ý.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 27/6/2024 bị đơn ông Trần Văn S trình bày:

Mẹ tôi với bà Huỳnh Thị Bích H có quen biết nhau. Ngày 14/11/2023, tôi và mẹ tôi là Trần Thị Thanh P có vay của bà Huỳnh Thị Bích H số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) để làm ăn. Việc vay tiền này các bên có làm giấy vay tiền có chữ ký của bên vay và bên cho vay. Để đảm bảo khoản vay trên tôi và mẹ tôi có thế chấp cho bà Huỳnh Thị Bích H bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 726904, số vào sổ cấp GCN: 06168 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 22/11/2023 cho bà Trần Thị Thanh P đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính xã Đ), vị trí Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Trong giấy vay tiền các bên có thỏa thuận lãi suất dựa trên quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam tại thời điểm cho vay. Thời hạn mượn là từ ngày 14/11/2023 đến ngày 14/01/2024. Tuy nhiên sau đó do làm ăn khó khăn, nên mẹ con tôi không có khả năng trả nợ cho bà H như đã hẹn, chỉ trả cho bà H được 8.000.000 đồng tiền lãi nhưng không có giấy tờ gì cả.

Nay bà H khởi kiện đến Tòa án yêu cầu tôi và mẹ tôi phải trả số tiền gốc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh với mức lãi suất là 1,6%, thời gian từ ngày 14/11/2023 cho đến khi thanh toán nợ xong tôi đồng ý trả cho bà Huỳnh Thị Bích H số tiền gốc 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh với mức lãi suất là 1,6%, thời gian từ ngày 14/11/2023 cho đến khi thanh toán nợ xong, trả một lần vào ngày 15/9/2024. Tôi yêu cầu bà Huỳnh Thị Bích H phải trả ngay cho mẹ tôi bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 726904, số vào sổ cấp GCN: 06168 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 22/11/2023 cho bà Trần Thị Thanh P đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính xã Đ), vị trí Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 244; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 385; 409; Điều 463; Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bà H phải trả lại ngay cho bà P Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 726904, số vào sổ cấp GCN: 06168 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 22/11/2023 cho bà Trần Thị Thanh P. Về án phí các bên phải nộp theo quy định của pháp luật. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Huỳnh Thị Bích H khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Trần Thị Thanh P và ông Trần Văn S trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Tại phiên tòa bà Trần Thị Thanh P và ông Trần Văn S đều vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 để tiến hành xét xử theo quy định.

[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

Bà Huỳnh Thị Bích H với bà Trần Thị Thanh P và anh Trần Văn S có quen biết nhau (Anh S là con trai của bà P). Ngày 14/11/2023, bà H cho bà P và anh S vay số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) để làm ăn; hạn trả nợ là ngày 14/01/2024. Việc vay tiền có lập giấy viết tay và hai bên đều ký xác nhận. Hợp đồng vay tiền có thỏa thuận lãi suất dựa trên quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam tại thời điểm cho vay là ngày 14/11/2023 đến ngày trả nợ là ngày 14/01/2024. Để đảm bảo khoản vay trên bà P và anh S có thế chấp cho bà H bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 726904, số vào sổ cấp GCN: 06168 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 22/11/2023 cho bà Trần Thị Thanh P đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính xã Đ), vị trí Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Đến thời điểm trả nợ do việc làm ăn khó khăn nên bà P và anh S không có khả năng trả nợ cho bà H như đã hẹn nên bà H đã có đơn khởi kiện ra Tòa. Đến ngày 25/6/2024, bà H và bà P thống nhất thỏa thuận: Vào ngày 15/9/2024, bà Trần Thị Thanh P sẽ trả một lần cho bà H số tiền là 224.000.000 đồng, trong đó số tiền gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 14/6/2024 là 22.400.000 đồng; bà H sẽ trả lại ngay cho bà P bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp. Tuy nhiên sau đó bà H thay đổi ý kiến và yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà Trần Thị Thanh P và anh Trần Văn S phải trả ngay số tiền gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh với mức lãi suất là 1,6%/tháng, thời gian từ ngày 14/11/2023 đến khi giải quyết xong vụ án.

Từ khi bà H có yêu cầu thay đổi ý kiến, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà P và anh S đến Tòa để hòa giải và xét xử nhưng bà P và anh S đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích H yêu cầu bà Trần Thị Thanh P và anh Trần Văn S phải có trách nhiệm trả nợ cho bà H số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh với mức lãi suất là 1,6%/tháng, thời gian từ ngày 14/11/2023 đến ngày xét xử ngày 14/8/2024 thành tiền là 200.000.000 đồng x 1,6% x 09 tháng = 28.800.000 đồng (Hai mươi tám triệu tám trăm ngàn đồng). Xét thấy, trong quá trình vay tiền bị đơn bà P và anh S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn, gây ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối bị đơn bà Trần Thị Thanh P và anh Trần Văn S xác định có nợ của nguyên đơn số tiền và lãi suất như nguyên đơn đã trình bày và vào ngày 25/6/2024 hai bên đã thỏa thuận được số nợ cũng như phương thức trả nợ. Tuy nhiên, sau đó nguyên đơn đã thay đổi sự thỏa thuận trên. Sau đó, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn để hòa giải và giải quyết vụ án nhưng bị đơn đã cố tình vắng mặt và không hợp tác, chứng tỏ việc cố tình vắng mặt của bị đơn chỉ nhằm mục đích gây khó khăn cho việc thu hồi nợ của nguyên đơn nên không thể chấp nhận được.

Việc nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích H nhận thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 726904, số vào sổ cấp GCN: 06168 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 22/11/2023 cho bà Trần Thị Thanh P đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính xã Đ), vị trí Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa của bà Trần Thị Thanh P, anh Trần Văn S là vi phạm pháp luật nên buộc bà H phải trả ngay bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho bà P, anh S.

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích H yêu cầu tính lãi từ ngày 14/11/2023 cho đến khi giải quyết xong vụ án. Tuy nhiên, tại phiên toà nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi suất trong thời gian từ ngày 14/11/2023 đến ngày 14/8/2024. Việc thay đổi, rút yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn và đình chỉ phần tiền chênh lệch.

[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí:

[4.1] Bị đơn bà Trần Thị Thanh P và anh Trần Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả nợ. Cụ thể: 228.800.000đồng x 5% = 11.440.000 đồng.

[4.2] H1 lại cho bà Huỳnh Thị Bích H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 5.175.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0006920 ngày 29/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 244; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 385; 409; Điều 463; Điều 466 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích H buộc bị đơn bà Trần Thị Thanh P và anh Trần Văn S phải có trách nhiệm trả ngay cho bà Huỳnh Thị Bích H số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng ( Hai trăm triệu đồng) và tiền lãi suất là 28.800.000 đồng ( Hai mươi tám triệu tám trăm ngàn đồng). Tổng cộng các khoản là 228.800.000 đồng ( Hai trăm hai mươi tám triệu tám trăm ngàn đồng).
  2. Quy định: Kể từ có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

    Buộc bà Huỳnh Thị Bích H phải trả lại ngay cho bà Trần Thị Thanh P 01 ( một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 726904, số vào sổ cấp GCN: 06168 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 22/11/2023 cho bà Trần Thị Thanh P đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính xã Đ), vị trí Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.

    Đình chỉ đối với yêu cầu của bà Huỳnh Thị Bích H về việc buộc bà Trần Thị Thanh P, anh Trần Văn S phải trả khoản lãi phát sinh từ ngày 15/8/2024 đến ngày xét xử là ngày 13/9/2024.

  3. Về án phí:
  4. 2.1. Bị đơn bà bà Trần Thị Thanh P và anh Trần Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả nợ là 11.440.000 đồng ( Mười một triệu bốn trăm bốn mươi bốn ngàn).

    2.2. H1 lại cho bà Huỳnh Thị Bích H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 5.175.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0006920 ngày 29/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

  5. Quyền kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện Vạn Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh
  • (Sau khi án có hiệu lực pháp luật);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu AV;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Phấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/DSST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 22/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích H buộc bị đơn bà Trần Thị Thanh P và anh Trần Văn S phải có trách nhiệm trả ngay cho bà Huỳnh Thị Bích H số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng ( Hai trăm triệu đồng) và tiền lãi suất là 28.800.000 đồng ( Hai mươi tám triệu tám trăm ngàn đồng). Tổng cộng các khoản là 228.800.000 đồng ( Hai trăm hai mươi tám triệu tám trăm ngàn đồng). Quy định: Kể từ có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Buộc bà Huỳnh Thị Bích H phải trả lại ngay cho bà Trần Thị Thanh P 01 ( một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 726904, số vào sổ cấp GCN: 06168 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 22/11/2023 cho bà Trần Thị Thanh P đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính xã Đ), vị trí Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Đình chỉ đối với yêu cầu của bà Huỳnh Thị Bích H về việc buộc bà Trần Thị Thanh P, anh Trần Văn S phải trả khoản lãi phát sinh từ ngày 15/8/2024 đến ngày xét xử là ngày 13/9/2024. 2. Về án phí: 2.1. Bị đơn bà bà Trần Thị Thanh P và anh Trần Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả nợ là 11.440.000 đồng ( Mười một triệu bốn trăm bốn mươi bốn ngàn). 2.2. H1 lại cho bà Huỳnh Thị Bích H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 5.175.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0006920 ngày 29/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. 3. Quyền kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger