Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI SƠN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày 03 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Cầm Ngọc Thương

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Việt, ông Cầm Bun Ly

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại Nhà văn hóa bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, xét xử Lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Văn K. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1976 tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: Không biết chữ. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: Không. Con ông: Hoàng Văn K1 (đã chết) và bà Vì Thị C, sinh năm 1952. Bị cáo không có vợ, con.

Tiền án:

- Bản án số 79/2020/HSST ngày 12/8/2020 của TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt Hoàng Văn K 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Bản án số 30/2022/HSST ngày 29/11/2022 của TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt Hoàng Văn K 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2002 bị TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (đã xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 16/7/2024, Hoàng Văn K mang theo số tiền 150.000 VNĐ đi bộ từ nhà đến khu vực bản H, xã C, huyện M mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Đến nơi, K gặp và mua được của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa H phiến và H1 với giá 150.000 VNĐ. Mua được ma túy, K cất giấu tại túi quần bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Khoảng 04 giờ ngày 17/7/2024, K lấy gói ma túy ra để sử dụng thì thấy bên trong có 04 gói đều được gói bằng nilon màu trắng, trong đó 03 gói mỗi gói đều chứa 01 viên H phiến và 01 gói chứa Heroine. Kính lấy 01 viên H phiến ra sử dụng hết một phần bằng hình thức đốt hít, phần còn lại Kính gói lại như ban đầu và cất giấu dưới để lọ hương trên bàn thờ để trong góc nhà. Khi K vừa cất giấu gói ma túy thì tổ công tác Công an xã M, huyện M đến kiểm tra, yêu cầu Kính có ma túy thì giao nộp. Kính tự giác lấy từ dưới lọ hương trên bàn thờ đặt ở góc phải trong nhà ra 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 04 gói nhỏ đều gói bằng nilon màu trắng, trong đó 02 gói đều chứa 01 viên nén màu hồng; 01 gói chứa mảnh viên nén hồng nghi là Hồng phiến (Methamphetamine) và 01 gói chứa chất bột nén màu trắng nghi là H1. Kính khai nhận các viên nén màu hồng và chất bột nén màu trắng là Hồng phiến và Heroine của K, tàng trữ mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Văn K về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ niêm phong vật chứng trên.

Ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M phối hợp với Phòng K2 Công an tỉnh S thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Hoàng Văn K, kết quả:

Tổng khối lượng 02 viên nén màu hồng và mảnh viên nén màu hồng là 0,27 gam, trích rút toàn bộ làm mẫu ký hiệu M1, M2, M3 trưng cầu giám định.

Khối lượng chất bột nén màu trắng là 0,01 gam lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M4 trưng cầu giám định.

Tại Kết luận giám định số 1478/KL-KTHS ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S kết luận:

“- Mẫu ký hiệu từ M1 đến M3 gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là M1 = 0,10 gam; M2 = 0,10 gam; M3 = 0,07 gam

- Mẫu ký hiệu M4 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,01 gam.

- Tổng khối lượng vật chứng thu giữ là 0,27 gam; loại Methamphetamine và 0,01 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.”

Bản cáo trạng số 112/CT-VKSMS ngày 07/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như nội dung truy tố của Viện kiểm sát truy tố.

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng điểm o, khoản 2, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon gói ma túy ban đầu (được niêm phong theo quy định).

Về án phí: Áp dụng Khoản 2, Điều 135, Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo tự bào chữa, nhất trí với phần luận tội của kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận, ngày 16/7/2024 bị cáo đã mua 150.000VNĐ ma túy để sử dụng đến ngày 17/7/2024 bị cáo bị Công an xã M, huyện M bắt quả tang thu giữ 0,01 gam Heroine và 0,27 gam Methamphetamine. Bị cáo Hoàng Văn K có 02 tiền án chưa được xóa án tích, cụ thể tại bản án số 79/2020/HSST ngày 12/8/2020 của TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt Hoàng Văn K 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bản án số 30/2022/HSST ngày 29/11/2022 của TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt Hoàng Văn K 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hoàng Văn K phạm tội trong trường hợp đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện M lập hồi 04 giờ 15 phút ngày 17/7/2024, kết luận giám định của Phòng K2 Công an tỉnh S, trích lục tiền án tiền sự, các biên bản hỏi cung bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Lời khai của bị cáo không có mâu thuẫn và không phát sinh tình tiết mới.

Có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Văn K đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 112/CT-VKSND ngày 07/11/2024 của VKSND huyện Mai Sơn truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ chất ma túy là chất Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy. Việc đưa vụ án ra xét xử lưu động tại địa phương nơi có địa bàn phức tại về ma túy là cần thiết, để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh xét thấy, bị cáo không có tài sản có giá trị. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử thấy rằng: 0,01 gam Heroine và 0,27 gam Methamphetamine đã trích rút hết làm mẫu giám định còn lại vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon gói ma túy ban đầu không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc H1 và M bị thu giữ, Hoàng Văn K khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bản H, xã C, huyện M. Việc mua bán không có ai cùng tham gia, chứng kiến. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có tài liệu, chứng cứ khác để điều tra mở rộng vụ án. Buộc bị cáo Hoàng Văn K phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 0,01 gam Heroine và 0,27 gam Methamphetamine thu giữ trong vụ án.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon gói ma túy ban đầu (được niêm phong theo quy định).

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2, Điều 135, Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND huyện Mai Sơn;
  • - Công an huyện Mai Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự Mai Sơn;
  • - Bị cáo,
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cầm Ngọc Thương

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI SƠN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại phòng nghị án .

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Ngọc T

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Bun L, ông Nguyễn Đức V

Tiến hành nghị án vụ án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Hoàng Văn K. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1976 tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

2. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp.

Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

3. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

4. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình

phạt.

Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

5. Tội danh, Điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo

Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

6. Về vật chứng, tài sản: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon gói ma túy ban đầu (được niêm phong theo quy định).

Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

7. Về án phí: Áp dụng Khoản 2, Điều 135, Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

8. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút ngày 03 tháng 12 năm 2024.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

p

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn K - ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger