Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/DS-ST

Ngày 03 - 5 - 2024

“V/v tranh chấp hợp đồng

dân sự, vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Châu Hùng, bà Trần Thị Ánh Hằng.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 187/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Bà Thang Tư T; nơi cư trú: số F, Nguyễn Văn T1, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.

Bị đơn: Bà Trần Mỹ L, sinh năm 1985, ông Nguyễn Phú H, sinh năm 1980; cùng cư trú: số A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang thành phố C, vắng mặt (có yêu cầu xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1964; nơi cư trú: số A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt (có yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà T2 Tư Tư trình bày: Giữa bà T và bà L là chị em cô cậu ruột nên bà T có cho vợ chồng bà L, ông H vay tiền nhiều lần đến ngày 06/4/2020 chốt nợ vay là 600.000.000 đồng, có lập biên nhận nợ, lãi suất 2%/tháng. Ngày 22/12/2022, bà T yêu cầu bà Phước (mẹ bà L) làm giấy bảo lãnh khoản vay nhưng đến nay bà L, ông H không trả nợ gốc và lãi nên bà T khởi kiện yêu cầu bà L, ông H, bà Phước có trách nhiệm trả số nợ 600.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Quá trình giải quyết vụ án, bà T rút lại yêu cầu bà Phước trả nợ. Đồng thời, giảm nợ cho bà L, ông H còn 500.000.000 đồng, nếu bà L, ông H trả trước 200.000.000 đồng thì bà T sẽ cho trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn bà T cung cấp: Giấy mượn tiền ngày 06/4/2020, Giấy bảo lãnh ngày 22/12/2022.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Mỹ L, trình bày: Tháng 10/2018, bà L có vay của bà T số tiền 600.000.000 đồng, không làm giấy tờ, lãi suất 5%/tháng, mỗi tháng đóng lãi 30.000.000 đồng. Năm 2019 (không nhớ ngày), bà L trả tiền gốc cho bà T được 200.000.000 đồng, trả 02 đợt mỗi đợt 100.000.000 đồng, chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản ngân hàng S và ngân hàng Á của bà T, còn nợ bà T 400.000.000 đồng, hàng tháng đóng lãi 20.000.000 đồng, khi đóng lãi đưa tiền mặt và chuyển khoản cho bà T nhưng không lập biên nhận. Đến năm 2020 do không có khả năng đóng lãi cho bà T nên bà L, ông H và bà T có làm giấy vay tiền 600.000.000 đồng ngày 06/4/2020 (trong đó số tiền gốc 400.000.000 đồng, tiền lãi không có khả năng trả nên bà T cộng dồn là 200.000.000 đồng). Nay thống nhất có nợ bà T số tiền 600.000.000 đồng nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên xin được trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ và yêu cầu xem xét về số tiền lãi đã đóng.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Phú H, trình bày: Thống nhất với trình bày của bà L, do bận công việc nên yêu cầu được xét xử vắng mặt.

Tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp: không.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P trình bày: Ngày 22/12/2022, bà Phước có ký tên vào giấy bảo lãnh trả nợ cho vợ chồng L, H nhưng do số nợ không liên quan đến bà Phước nên bà Phước không đồng ý cùng có trách nhiệm trả nợ theo yêu cầu của bà T.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành đối chất, hòa giải giữa các đương sự nhưng bà L, ông H vắng mặt nên không đối chất, hòa giải được.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn bà T vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Đồng thời, không có tài liệu, chứng cứ khác để cung cấp bổ sung cho Tòa án.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, bà L, ông H, bà Phước vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về giải quyết vụ án:

Xét thấy, việc thỏa thuận vay nợ giữa các bên là tự nguyện, trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ bị đơn L, H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn vay 500.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, chứng cứ chứng minh là giấy vay tiền ngày 06/4/2020. Bên cạnh đó bà L cũng thừa nhận nợ đồng ý trả. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn L, H trả số tiền vốn vay 500.000.000 đồng là có căn cứ.

Đối với trình bày của bị đơn bà L về việc chỉ còn nợ vốn 400.000.000 đồng, thỏa thuận lãi 5%/tháng, do không trả lãi được nên cộng dồn vốn lãi theo giấy vay tiền ngày 06/4/2020 là 600.000.000 đồng, bà đồng ý trả, xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi dứt nợ. Thấy rằng, ngoài lời khai bị đơn bà L không cung cấp chứng cứ nào khác chứng minh cho việc trả lãi cao hơn quy định pháp luật để xem xét khấu trừ, nguyên đơn cũng không thừa nhận nên không có cơ sở xem xét.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn cùng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phước liên đới trả số tiền 600.000.000 đồng nhưng quá trình giải quyết phía nguyên đơn rút lại chỉ yêu cầu bị đơn L, H trả 500.000.000 đồng, rút lại yêu cầu đối với bà Phước và rút lại đối với số tiền 100.000.000 đồng. Căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đình chỉ đối với số tiền 100.000.000 đồng và đối với yêu cầu bà Phước liên đới trả nợ nguyên đơn đã rút.

Từ những phân tích trên, căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn bà L, ông H có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền vốn vay 500.000.000 đồng; Đình chỉ đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Thang Tư T khởi kiện yêu cầu bà Trần Mỹ L, ông Nguyễn Phú H trả nợ vay. Bị đơn bà L, ông H có nơi cư trú tại khóm C, phường C, thành phố C nên yêu cầu kiện khởi kiện của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về phạm vi yêu cầu khởi kiện: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà L, ông H trả số nợ 500.000.000 đồng, rút lại yêu cầu số tiền 100.000.000 đồng và rút lại yêu cầu bà Phước trả nợ nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu nêu trên theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà L, ông H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phước có yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại khoản Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thang Tư T:

Theo biên nhận nợ ngày 06/4/2020 thể hiện bà L, ông H có vay của bà T số tiền 600.000.000 đồng cùng lời khai của bà L, ông H thừa nhận nợ bà T số tiền nêu trên, đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Xét thấy, hợp đồng vay tiền giữa bà T và bà L, ông H được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, nội dung không trái pháp luật, đạo đức xã hội, các bên tham gia đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Bà L, ông H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Vì vậy, bà T khởi kiện yêu cầu bà L, ông H trả vốn vay 600.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà T chỉ yêu cầu bà L, ông H trả số nợ 500.000.000 đồng, giảm cho bà L, ông H 100.000.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyện của bà T, có lợi cho bị đơn và phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận. Buộc bà L, ông H có trách nhiệm trả cho bà T vốn gốc 500.000.000 đồng.

[5] Xét yêu cầu của bị đơn bà Trần Mỹ L:

Bà L cho rằng lãi suất vay là 5%/tháng, mỗi tháng đều đóng lãi cho bà T từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, bằng hình thức đưa tiền mặt nhưng không có lập biên nhận hoặc chuyển vào tài khoản ngân hàng của bà T. Do đó, bà L có yêu cầu xem xét đối với số tiền lãi đã đóng. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã Thông báo yêu cầu bà L cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh quá trình đóng lãi nhưng bà L không cung cấp, đồng thời bà T không thừa nhận có nhận số tiền lãi như bà L trình bày, ngoài lời khai của bà L không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có cơ sở để xem xét yêu cầu của bà L về việc khấu trừ tiền lãi đã đóng vào vốn vay.

[6] Về phương thức thanh toán: Bà T yêu cầu nếu bà L, ông H trả trước 200.000.000 đồng thì bà T sẽ cho bà L, ông H trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ. Bà L xin được trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ. Do các bên không thống nhất được phương thức thanh toán nên không có cơ sở để xem xét.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà L, ông H phải chịu 24.000.000 đồng (500.000.000 đồng x 5%) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, Điều 244 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thang Tư T đối với yêu cầu bà Trần Mỹ L, ông Nguyễn Phú H trả số tiền 100.000.000 đồng và đối với yêu cầu bà Nguyễn Thị P có trách nhiệm liên đới trả nợ.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thang Tư T: Buộc bà Trần Mỹ L, ông Nguyễn Phú H cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà T2 Tư Tư vốn gốc 500.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Thang Tư T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà T số tiền 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai 0003577 ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.

Bà Trần Mỹ L, ông Nguyễn Phú H phải chịu 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Thang Tư T có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bà Trần Mỹ L, ông Nguyễn Phú H, bà Nguyễn Thị P là 15 ngày, kể từ bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát TPCĐ (1);
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang (1);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Đại Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/DS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản

  • Số bản án: 22/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger