Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 22/2024/HS-PT

Ngày 08 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Xuân Thuỷ.
  • Các Thẩm phán: Bà Tòng Thị Hiền; ông Đỗ Tuấn Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 29/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo Lò Văn C, Lành Văn T do có kháng cáo của các bị cáo Lò Văn C, Lành Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 115/2024/HS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Các bị cáo bị kháng cáo:

  1. Lò Văn C, sinh ngày 10/11/2005 (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 9 tháng 23 ngày) tại huyện S, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản B, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Xinh Mun; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn P và bà Vì Thị D; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2023 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
  2. Lành Văn T, sinh ngày 25/12/2007 (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 15 tuổi 8 tháng 08 ngày) tại huyện S, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Xinh Mun; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lành Văn V và bà Lò Thị T1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/9/2023 đến nay. Có mặt tại phiên toà.

- Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Lành Văn T: Ông Lành Văn V, sinh năm 1985; nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo Lành Văn T: Bà Lường Thị T2, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn C: Ông Lường Ngọc C1, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.

Ngoài ra còn có bị hai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Toà không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ hơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 02/9/2023, sau khi ăn cơm tối tại nhà bạn của T ở bản P, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La thì T điều khiển xe mô tô có biển kiểm soát 26C1-164.34 của gia đình T chở C ra về, khi chuẩn bị về C có nói với T “Mày cứ lái xe đi, tý anh em mình về cướp điện thoại mang đi bán”, T trả lời là “Ừ”, nhất trí với đề nghị của C, C nói với T về việc giả vờ hỏi mượn điện thoại người qua đường sau đó bỏ chạy để chiếm đoạt, khi nghe C nói vậy T điều khiển xe chở C đi theo hướng xã C đến thị trấn S, khi đến đoạn đường quốc lộ 4G thuộc địa phận bản H, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La thì C tiếp tục nói với T "Anh em mình đi cướp điện thoại đi bán đi”, lúc này T trả lời “Thôi làm thế thành tội phạm đấy”, C nói tiếp “Mày cứ làm đi không sợ đâu”, T đồng ý và điều khiển xe đi tìm người để chiếm đoạt điện thoại. Khi đi đến địa phận bản Hát Sét thì T và C quan sát thấy Lò Văn T3, sinh ngày 06/02/2009 trú tại bản Mô, xã C, huyện S đang điều khiển xe mô tô chở theo Cà Văn V1, sinh ngày 23/4/2009 ở cùng bản đang đi cùng chiều với T và C. T điều khiển xe mô tô đi theo sau T3 và V1 đi đến bản T, xã C, huyện S thì T điều khiển xe đi song song với xe của T3 rồi nói "Dừng xe lại anh mượn điện thoại gọi cho người nhà”. Lúc này, T3 dừng xe và vẫn ngồi trên xe mô tô, T và C cũng ngồi trên xe mô tô, T vẫn để xe nổ máy để chuẩn bị nếu mượn được điện thoại thì điều khiển xe bỏ chạy. Thấy T hỏi mượn điện thoại thì T3 lấy trong túi quần bên phải ra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C30s đưa cho T, T dùng tay phải nhận lấy điện thoại sau đó đưa điện thoại sang tay trái giả vờ bấm số điện thoại và dùng tay trái đưa lên tai trái nghe đồng thời quan sát thấy T3 không để ý thì T điều khiển xe bỏ chạy, đi được khoảng 03 mét thì T vòng tay trái đưa cho C chiếc điện thoại di động vừa chiếm đoạt được và điều khiển xe về hướng thị trấn S, khi đi được khoảng 200 mét thì xảy ra va chạm giao thông với xe gắn máy có biển kiểm soát 98AB-035.37 do Lò Thị Nguyệt Á điều khiển chở theo em gái là Lò Thị Quỳnh A đang đi ngược chiều. Sau khi xảy ra va chạm giao thông thì C, A và Á đều bị thương nên được người nhà đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện S để điều trị, T bị thương nhẹ nhưng do sợ bị phát hiện về hành vi cướp giật tài sản nên đứng dậy bỏ lại xe mô tô và bỏ chạy. Đến chiều ngày 03/9/2023, T và C được người nhà đưa đến Công an huyện S để đầu thú về hành vi cướp giật tài sản, giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C30s.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 03/9/2023 xác định hiện trường vụ tai nạn giao thông là tại Km 74, Quốc lộ D, thuộc bản C, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 09/9/2023 xác định hiện trường vụ cướp giật tài sản: vụ án xảy ra đoạn đường Quốc lộ 4G thuộc bản T, xã C, Sông M, tiến hành xác định các vị trí dùng xe Lò Văn T3 và Lành Văn T khi hỏi mượn điện thoại có phía Nam giáp với vườn nhãn và nhà ở của hộ gia đình ông Hoàng Văn T4; phía Bắc tiếp giáp với nương hộ gia đình của ông Nguyễn Văn M, hướng tây là hướng đi thị trấn S; hướng Đ đi thành phố S.

Kết luận định giá tài sản số 35/KL-KTHS, ngày 10/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: “01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme, loại C30s, bộ nhớ 32GB, số Imei 1: 860936061366187; Số Imei 2: 860936061363179, màu xanh, đã qua sử dụng có trị giá 800.000 đồng”.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 411/KLTTCT-TTPY ngày 13/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Lò Văn C, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương của Lò Văn C tại thời điểm giám định là 04%”.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 406/KLTTCT-TTPY ngày 10/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Lành Văn T, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương của Lành Văn T tại thời điểm giám định là 02%”.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 410/KLTTCT-TTPY ngày 13/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Lò Thị Nguyệt Á, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương của Lò Thị Nguyệt Á tại thời điểm giám định là 10%”.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 407/KLTTCT-TTPY ngày 10/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Lò Thị Quỳnh A, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương của Lò Thị Quỳnh A tại thời điểm giám định là 02%”.

Kết luận định giá tài sản số 47/LK ngày 16/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện S, kết luận: “Tổng giá trị các bộ phận hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius có BKS 26C1-164.34 và xe máy nhãn hiệu THAILANNA có BKS 98AB-035.37 là 3.340.000đ”.

Về dân sự: Lò Văn C và Lành Văn T cùng gia đình bồi thường cho Lò Văn T3 với tổng số tiền 6.000.000đ (mỗi gia đình 3.000.000đ), bồi thường thiệt hại sức khỏe cho cháu Lò Thị Quỳnh A, Lò Thị Nguyệt Á với tổng số tiền 7.000.000đ và 01 con lợn trị giá 900.000đ để làm cúng theo phong tục (gia đình C bồi thường 3.000.000đ, gia đình T bồi thường 4.000.000đ và 01 con lợn), đối với bộ phận hư hỏng chiếc xe máy BKS 98AB-035.37 gia đình các bị cáo và gia đình Lò Thị Nguyệt Á thỏa thuận gia đình hai bị cáo có trách nhiệm sửa chữa chiếc xe và trả lại cho gia đình của Á. Lò Văn T3, Lò Thị Nguyệt Á, Lò Thị Quỳnh A không có yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số: 24/CT-VKSSM ngày 24 tháng 01 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện S đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn C và Lành Văn T về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 BLHS năm 2015.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 115/2024/HS-ST ngày 15/4/2024, Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử và Quyết định:

  1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
    1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội Cướp giật tài sản. Xử phạt bị cáo 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2023.
    2. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lành Văn T phạm tội Cướp giật tài sản. Xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo nhập trại thụ hình.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp và người bào chữa trong vụ án.

* Do không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, ngày 16/4/2024 bị cáo Lành Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: Mức hình phạt mà Toà án nhân dân huyện Sông Mã đã tuyên đối với bị cáo là quá cao, đề nghị Toà cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Ngày 25/4/2024 bị cáo Lò Văn C có đơn kháng cáo với nội dung: Mức hình phạt mà Toà án nhân dân huyện Sông Mã đã tuyên đối với bị cáo là quá cao, đề nghị Toà cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ, cho bị cáo được hưởng án treo.

* Tại phiên toà phúc thẩm:

  • - Các bị cáo Lò Văn C, Lành Văn T giữ nguyên kháng cáo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không nhất trí phần hình phạt đã tuyên đối với bị cáo, đề nghị Toà cấp phúc thẩm xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo của các bị cáo và quan điểm giải quyết vụ án: Không chấp nhận kháng cáo đối với bị cáo Lò Văn C, giữ nguyên án sơ thẩm và chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lành Văn T, áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương cũng đảm bảo giáo dục đối với bị cáo.
  • - Ý kiến luật sư: các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả, điều kiện hoàn cảnh khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.
  • - Ý kiến của người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lành Văn T: nhất trí với quan điểm của người bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đượng hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/4/2024 bị cáo Lành Văn T có đơn kháng cáo, ngày 25/4/2024 bị cáo Lò Văn C có đơn kháng cáo. Xét đơn kháng cáo của các bị cáo đều trong thời hạn luật định, hợp lệ về hình thức, đúng chủ thể, đảm bảo về thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở xác định: Ngày 02/9/2023, Lành Văn T và Lò Văn C đã có hành vi giả vờ mượn điện thoại của Lò Văn T3 để gọi điện, nhân lúc T3 không để ý, T đã điều khiển xe chở C bỏ chạy để chiếm đoạt chiếc điện thoại của T3 với trị giá 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng), tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, Lò Văn T3 tròn 14 tuổi 6 tháng 27 ngày. Sau khi cướp giật, trên đường bỏ trốn T điều khiển xe chở C đã gây tai nạn giao thông làm 03 người bị thương với tổng tỷ lệ thương tích là 16%.

Hành vi mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại đến sức khoẻ của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự an ninh ở địa phương. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Lò Văn C, Lành Văn T về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không oan sai.

[4] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại; các bị cáo đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra để đầu thú về hành vi của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lò Văn C có hành vi rủ rê bị cáo Lành Văn T (là người dưới 18 tuổi) thực hiện hành vi phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, các bị cáo Lò Văn C, Lành Văn T là những người chưa đủ 18 tuổi nên khi quyết định hình phạt cần căn cứ áp dụng các Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đúng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo.

Đối với bị cáo Lò Văn C, là người khởi xướng, bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do đó không chấp nhận yêu cầu xin hưởng án treo của bị cáo, cần giữ nguyên án phạt của cấp sơ thẩm.

Đối với bị cáo Lành Văn T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Ngoài ra thời điểm phạm tội bị cáo tròn 15 tuổi 8 tháng 08 ngày nên nhận thức pháp luật còn hạn chể. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xét thấy cho bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo giáo dục chung, phòng ngừa riêng.

Từ những căn cứ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Lò Văn C, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lành Văn T; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2024/HS-ST ngày 15/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lò Văn C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Lành Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lành Văn T, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lò Văn C; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2024/HS-ST ngày 15/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La như sau:
  2. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

    Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội Cướp giật tài sản. Xử phạt bị cáo 03(ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2023.

    Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lành Văn T phạm tội Cướp giật tài sản. Xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 08/8/2024).

    Giao các bị cáo Lành Văn T cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 21, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Miến án phí cho bị cáo Lò Văn C, bị cáo Lành Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (08/08/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La ;
  • - Chi cục THADS huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La ;
  • - Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La;
  • - Các bị cáo;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Phòng KTNV- THA;
  • - TỔ HCTP;
  • - Lưu HS-AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Cầm Xuân Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về hình sự - cướp giật tài sản

  • Số bản án: 22/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lò Văn C và Lành Văn T phạm tội Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger